Trong những năm qua, Việt Nam nổi lên là một trong những điểm đến đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài với rất nhiều dự án lớn, trong nhiều lĩnh vực quan trọng. Là một trong những người gắn bó lâu năm với lĩnh vực đầu tư nước ngoài, ông đánh giá như thế nào về việc quản lý, thẩm định, đánh giá các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian qua?
Trong hơn 37 năm kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật Đầu tư) được ban hành và có hiệu lực (từ tháng 12/1987), Việt Nam đã triển khai một cách nghiêm túc và có hiệu quả công tác thẩm định, đánh giá để cấp phép cho dự án đầu tư nước ngoài. Đồng thời, công tác quản lý hỗ trợ các dự án trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam cũng được thực hiện rất nghiêm túc, theo đúng quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng như của các quy định pháp luật khác có liên quan trên nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất ở các cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương. Cùng với đó, Việt Nam cam kết cung cấp đầy đủ hướng dẫn, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại Việt Nam trên tinh thần coi thành công của các nhà đầu tư nước ngoài như là thành công của quốc gia, cùng tránh rủi ro và chia sẻ thành quả.
Nhờ đó, Việt Nam đã thu hút thành công vốn đầu tư nước ngoài ngay từ những năm đầu thập niên 1990, khi nền kinh tế của Việt Nam còn rất khó khăn và yếu kém. Vượt qua các thách thức toàn cầu như khủng hoảng tài chính khu vực, đại dịch Covid-19, sự dịch chuyển của chuỗi sản xuất cung ứng toàn cầu trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nền kinh tế lớn ngày càng phức tạp…, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn tiếp tục đổ vào Việt Nam với xu hướng giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước và chất lượng dự án ngày một cao hơn.
Số liệu thống kê cho thấy giai đoạn 2015-2019, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt hơn 143,62 tỷ USD, vốn giải ngân đạt 87,28 tỷ USD; giai đoạn 2020-2024 tương ứng là 176,8 tỷ USD và 110,65 tỷ USD. Điều này cho thấy công tác thẩm định và đánh giá dự án đầu tư nước ngoài về cơ bản đã đảm bảo hiệu quả.
Năm 2024, bối cảnh địa chính trị quốc tế diễn ra phức tạp hơn nhiều so với giai đoạn trước đó (chiến sự giữa Nga- Ukraine, chiến tranh ở Trung Đông, quan hệ giữa các nền kinh tế lớn trong thương mại…) đã tác động đến xu hướng dịch chuyển của dòng vốn đầu tư toàn cầu. Việt Nam, với môi trường đầu tư mở, hội nhập kinh tế quốc tế và có sức cạnh tranh cao (trong đó có vai trò, có đóng góp của công tác thẩm định đánh giá dự án) đã trở thành một điểm đến của nhiều nhà đầu tư nước ngoài.
Tuy vậy, sự gia tăng về vốn đầu tư nước ngoài cũng đi kèm với nhiều dự án chất lượng thấp, không phù hợp với định hướng thu hút của Việt Nam trong giai đoạn mới, khi nền kinh tế Việt Nam cần có các dự án có công nghệ cao, qui mô lớn, bảo vệ môi trường và đầu tư xanh mà Việt Nam đang hướng tới.
Từ việc xem xét chất lượng các dự án đầu tư nước ngoài hiện có, có thể thấy việc chọn lọc dự án phải được căn cứ vào các tiêu chí chọn lựa cụ thể, không mang tính tùy tiện, và phải thống nhất trên cấp độ quốc gia, địa phương và từng ngành, lĩnh vực. Đặc biệt, phải được tất cả các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành liên quan đến hoạt động FDI tại Việt Nam thống nhất áp dụng.
Do vậy, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 18/2/2025 về việc ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Việc thực hiện nghiêm túc Quyết định 315 là một bước quan trọng để cụ thể hóa Nghị quyết 50-NQ/TW, trong đó nhấn mạnh việc bảo đảm chất lượng của các dự án được cấp phép trên nguyên tắc đa phương hóa, đa dạng hóa đối tác đầu tư, tận dụng sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam.
Xin ông nói rõ hơn về ý nghĩa của Quyết định số 315/QĐ-TTg trong việc định hướng và quản lý, thẩm định, đánh giá các dự án đầu tư nước ngoài trong thời gian tới?
Thực chất, việc ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư nước ngoài không phải là sự thay đổi lớn mà là việc cụ thể hóa các chỉ tiêu đã áp dụng và bổ sung mới để thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước, giữa các bộ, ngành, địa phương liên quan trước khi ra quyết định cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng không để bỏ lọt bất cứ một tác động xấu nào của đầu tư nước ngoài đối với cả kinh tế, xã hội và môi trường Việt Nam. Thực tế đã cho thấy có nhà đầu tư nước ngoài đã tận dụng các sơ hở trong quản lý đầu tư gây hậu quả nặng nề về môi trường biển của Việt Nam trước đây.
Theo đó, trong Quyết định 315 có tất cả 42 chỉ tiêu, trong đó có 29 chỉ tiêu kinh tế, 8 chỉ tiêu về xã hội, và 5 chỉ tiêu về môi trường đã cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư nước ngoài đối với từng mặt tác động của dự án. Điều đặc biệt là đi cùng với các tiêu chí này có hướng dẫn phương pháp xác định nội dung của tiêu chí.
Nếu các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài thực hiện đúng việc đánh giá các tiêu chí của dự án trước khi cấp phép, thì chất lượng dự án đầu tư nước ngoài chắc chắn sẽ cao hơn trước và phù hợp với đòi hỏi hiện nay là “chất lượng cần hơn số lượng”.
Hiện số lượng vốn FDI đăng ký nhưng vốn chưa giải ngân còn rất lớn. Tính lũy kế đến hết 31/12/2024, cả nước có 42.002 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 502 tỷ USD, vốn thực hiện đạt gần 322 tỷ USD mới bằng 64,1% tổng vốn đăng ký, còn lại 35,9% vốn chưa thực hiện tương ứng với 180 tỷ USD. Đây là một con số còn quá lớn trong bối cảnh chúng ta cần vốn cho tăng trưởng và phát triển giai đoạn tới.
Về lĩnh vực đầu tư trong năm 2025 và các năm tới, đầu tư nước ngoài vẫn tập trung đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo, như ngành điện tử, bán dẫn… Mặc dù tình hình địa chính trị còn rất phức tạp, khó dự báo chính xác, nhưng số vốn đầu tư vẫn sẽ đạt hoặc vượt không cao lắm so với mức đã đạt được trong năm 2024 (đạt 38,24 tỷ USD) do Việt Nam vẫn được đánh giá là một môi trường đầu tư có tính cạnh tranh cao, dù nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu.
Có ý kiến cho rằng việc tạo ra khung hành lang cứng khiến việc áp dụng khó khăn. Ông có quan điểm thế nào về vấn đề này?
Mọi đòi hỏi mới đối với công việc phải làm trong giai đoạn đầu chắc chắn sẽ phát sinh một số khó khăn mới, nhưng với trình độ quản lý đầu tư nước ngoài của đội ngũ cán bộ công chức liên quan hiện nay cũng sẽ dễ dàng tiếp cận và thực hiện được tốt nhiệm vụ đánh giá hiệu quả đầu tư nước ngoài bằng bộ tiêu chí được quy định tại Quyết định 315 nêu trên.
Việc thực thi pháp luật nói chung và đối với đầu tư nước ngoài nói riêng càng phải tuân thủ đúng quy định của luật pháp đã ban hành, không được có sự linh hoạt, nếu thấy tiêu chí nào chưa đúng cần được điều chỉnh lại, thì phải kiến nghị giải pháp khắc phục ngay đến cấp có thẩm quyền xử lý.
VnEconomy 26/03/2025 13:26
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 12-2025 phát hành ngày 24/3/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/tap-chi-kinh-te-viet-nam/detail/1308




Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Có những vùng đất càng đi chậm càng thấy nhiều điều đáng giá. Một mái thành rêu phong ở Huế, dòng nước trong veo dưới chân Trường Sơn, hang động được gìn giữ qua triệu năm hay nếp nhà nép bên sườn núi đều có thể mở ra sinh kế mới. Nhưng giá trị không nằm ở việc đón thật đông người hay dựng thêm thật nhiều dịch vụ. Hành trình qua Huế, Sơn Đoòng và những bản làng phía Tây gợi một cách làm khác: để di sản bước vào đời sống hôm nay mà vẻ đẹp, ký ức và phần dành cho mai sau vẫn vẹn nguyên.
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Các loại hình nhà ở người nước ngoài có thể tiếp cận; điều kiện giao dịch và hạn mức sở hữu tại từng dự án; những trở ngại khi mua, thuê hoặc bố trí chỗ ở cho chuyên gia… cùng những giải pháp tháo gỡ đã được đưa ra bàn thảo công khai.