Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW về nâng cao chất lượng hợp tác đầu tư, bài toán đặt ra đối với khu vực Bắc Trung Bộ là làm sao để doanh nghiệp trong nước cùng lớn mạnh theo những dòng vốn hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng tỷ USD.
Dự án quy mô lớn chỉ là một phần giá trị của một dự án FDI. Đánh giá hiệu quả của dự án cần xem xét thêm các yếu tố như công nghệ được đưa vào, kỹ năng người lao động tích lũy, mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt và khả năng lan tỏa các chuẩn mới về sản xuất, quản trị, môi trường.
Là một trong những chuyên gia chứng kiến dòng vốn FDI đầu tiên vào Việt Nam những năm 1990, nhưng trong cuộc trò chuyện với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy mới đây, GS. Nguyễn Mại, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, đã nhấn mạnh tới sự chuyển hướng.
“Đón đại bàng ở năm 2026 không có nghĩa khép cửa với vốn ngoại. Việt Nam vẫn cần những nhà đầu tư lớn, dài hạn và nhất là các dự án trong lĩnh vực xanh, số, công nghệ cao, có R&D và liên kết với doanh nghiệp trong nước”, GS. Nguyễn Mại nói và cho rằng sau hơn 40 năm đón dòng vốn FDI, Việt Nam đang đặt trọng tâm ở những ưu tiên mới. Hơn thế nữa, lợi thế, hạ tầng, thể chế và nguồn nhân lực của Việt Nam nói chung và của khu vực Bắc Trung Bộ nói riêng cũng có nhiều khác biệt nếu so với thời kỳ nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tới khu vực này khảo sát và đầu tư tại Nghi Sơn.
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị đặt yêu cầu nâng chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài. Trọng tâm được mở rộng từ quy mô vốn sang công nghệ, chuỗi giá trị, đổi mới sáng tạo, liên kết với doanh nghiệp trong nước và giá trị gia tăng. Với những địa phương từng quen nhìn FDI qua tổng vốn đăng ký, số dự án hay tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp, đây là một thay đổi đáng chú ý trong cách lựa chọn và đồng hành với nhà đầu tư.
Điều đáng nói, sự thay đổi này từng được ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, nhắc tới trong hành trình hội nhập của Việt Nam. Năm 2010, tại một hội thảo về mô hình tăng trưởng, ông Tuyển đã chỉ ra hạn chế của cách tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động trình độ thấp; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu chuyển dần sang khoa học - công nghệ, nhân lực trình độ cao và đổi mới cơ chế kinh tế.
Mười sáu năm sau, điều ông Tuyển đặt ra vẫn còn nguyên giá trị về một yêu cầu phát triển khác, cao hơn và chất lượng hơn. Việt Nam vẫn cần vốn, thị trường và hội nhập sâu rộng. Nhưng cái khó là chuyển những cơ hội ấy thành năng suất, công nghệ và sức cạnh tranh nội sinh của nền kinh tế.
Cũng giống như các khu vực khác, Bắc Trung Bộ cần các dự án công nghệ cao, tiết kiệm năng lượng, gắn kết chuỗi cung ứng nội địa và giúp kỹ sư, doanh nghiệp trong nước từng bước làm chủ sản xuất.
Do vậy, yêu cầu quan trọng của hội nhập là giúp doanh nghiệp Việt bước sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn. Từ việc cung cấp dịch vụ ban đầu đến linh kiện, vật liệu, bảo trì, tự động hóa hay R&D là một quá trình dài. Chính quyền địa phương có thể hỗ trợ bằng cách minh bạch tiêu chuẩn mua hàng, kết nối nhà cung ứng, mở cơ hội tiếp cận vốn, công nghệ và đào tạo để doanh nghiệp từng bước nâng chuẩn.
Cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng phụ thuộc vào chất lượng hạ tầng, năng lượng, nhân lực, dịch vụ công và tốc độ xử lý công việc. Nghi Sơn, Vũng Áng hay Chân Mây, cần xác định vai trò trong mạng lưới công nghiệp, logistics của vùng, đồng thời mở cơ hội để doanh nghiệp trong nước lớn lên quanh các dự án chiến lược.
Dự án lớn kéo theo yêu cầu về hạ tầng, lao động và dịch vụ. Cảng, điện, nước, giao thông, đào tạo nghề phải theo kịp tốc độ đầu tư; nếu không, chi phí sẽ hiện ra ở tình trạng tắc nghẽn, thiếu lao động kỹ thuật hoặc áp lực môi trường. Chất lượng thu hút đầu tư vì thế còn được quyết định bởi năng lực giải quyết những việc cụ thể ấy.
Khi thị trường ngày càng coi trọng tiêu chuẩn carbon, năng lượng sạch và truy xuất chuỗi cung ứng, điện gió ở miền tây Quảng Trị, điện sinh khối từ bã mía, khu công nghiệp sinh thái và logistics ít phát thải có thể giúp khu vực đón thêm dự án công nghệ cao, sản xuất xanh.
Nhà đầu tư ngày càng quan tâm tới điện ổn định, nhân lực, thời gian giải quyết thủ tục, dữ liệu và năng lực của nhà cung ứng địa phương. Địa phương có thể cạnh tranh bền vững hơn bằng cách nâng chất lượng hạ tầng và dịch vụ, tạo điều kiện để dự án tốt hoạt động lâu dài.
Quy mô vốn vẫn quan trọng, nhưng sức lan tỏa của dự án còn phụ thuộc vào chất lượng công nghệ, mức độ xanh và số hóa, hoạt động R&D, liên kết với doanh nghiệp Việt và triển vọng làm chủ công nghệ cốt lõi.
FDI tạo hiệu quả lan tỏa khi doanh nghiệp trong nước lớn lên cùng nhà đầu tư: nhà cung ứng Việt nâng chuẩn, kỹ sư đảm nhiệm khâu khó hơn, doanh nghiệp địa phương tiến từ dịch vụ ban đầu tới linh kiện, vật liệu và giải pháp kỹ thuật. Dòng vốn ngoại khi ấy để lại thêm năng lực sản xuất trong nước.
Công nghệ chỉ lan tỏa khi doanh nghiệp Việt, trường đại học và đội ngũ lao động đủ khả năng tiếp nhận. Khoảng cách công nghệ giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước vì thế vẫn cần được thu hẹp.
GS.TS Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, lưu ý khoảng trống về nhân lực nghiên cứu và phát triển. Việt Nam hiện mới có khoảng 1,5 lao động R&D trên 1.000 lao động. Ông Nhân đề xuất nâng số nhân lực R&D từ khoảng 75.665 người lên khoảng 294.000 người vào năm 2045, tương đương 5,83 người trên 1.000 lao động. Muốn tiếp nhận rồi tiến tới làm chủ công nghệ, Việt Nam còn phải đi một quãng dài trong phát triển đội ngũ nghiên cứu.
Vũng Áng là nơi những yêu cầu ấy hiện ra khá rõ. Các tổ hợp công nghiệp, năng lượng và cảng biển quy mô lớn đã tạo nguồn thu, việc làm và thay đổi cơ cấu kinh tế trong thời gian ngắn. Với các dự án có vốn đầu tư từ hàng chục, hàng trăm đến hàng tỷ USD, điều địa phương quan tâm thêm là tỷ lệ nội địa hóa, cơ hội cho nhà cung ứng Việt, chất lượng việc làm, công nghệ, quản trị và yêu cầu môi trường.
Ông Mai Xuân Liêm, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Thanh Hóa, nhìn vấn đề từ phía doanh nghiệp trong nước. Ông cho biết địa phương còn thiếu những doanh nghiệp quy mô lớn có sức lan tỏa; sức cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp và sản phẩm còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động chưa đáp ứng yêu cầu mới. Vì vậy, theo ông, “đưa doanh nghiệp địa phương tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu là ưu tiên hàng đầu”.
TS. Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, cho rằng FDI không tự động tạo ra sức lan tỏa. Ở nấc phát triển cao hơn, giá trị của dòng vốn này nằm ở khả năng chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản trị, tiêu chuẩn sản xuất và tạo liên kết thực chất với doanh nghiệp trong nước. Thước đo vì thế cần dịch chuyển từ lượng vốn thu hút được sang những năng lực mới mà nền kinh tế tích lũy được.
Trong nhiều năm, câu chuyện lao động Bắc Trung Bộ thường được kể theo một hướng: lên tàu, vào Nam, tìm việc. Anh Vũ Ngọc Thắng và chị Lê Thị Phương từng đi theo hướng ấy. Mưu sinh xa quê là lựa chọn quen thuộc của một thế hệ khi việc làm công nghiệp tại chỗ còn ít. Khi Nhà máy giày da Adiana mở tại xã Triệu Sơn và tuyển lao động, hai vợ chồng quyết định trở về. Gia đình ủng hộ lựa chọn của họ. Sau nhiều năm làm việc, anh Thắng được cất nhắc làm trưởng ca. Thu nhập của anh hiện khoảng 12 triệu đồng mỗi tháng, còn chị Phương khoảng 10 triệu đồng.
Thu nhập khi trở về có thể thấp hơn những năm làm việc xa nhà, nhưng phép tính của một gia đình không dừng ở bảng lương. Cuối tuần, vợ chồng anh Thắng, chị Phương có thể sum vầy cùng người thân; con cái gần ông bà. Mỗi dịp Tết, họ không còn cảnh chen chúc tìm vé tàu về quê, cũng không còn những năm tháng sống trong căn phòng trọ chừng 15 m² chật chội. “Cuộc sống đã đỡ vất vả hơn nhiều so với trước”, chị Phương nói.
Trên mảnh đất cha mẹ cho, anh chị đã cất một ngôi nhà mái Nhật khang trang, khuôn viên rộng, nhiều hoa và cây xanh, có cả hồ cá koi nhỏ. Gia đình cũng đã mua một chiếc ô tô điện VinFast. Những chi tiết đời thường không nằm hết trong con số thu nhập hàng tháng, nhưng lại hiện diện rất rõ trong chất lượng sống. Quê bây giờ cũng không còn chỉ thấy người già và trẻ nhỏ như vài năm trước. Theo chị Phương, nhiều cặp vợ chồng trẻ đi làm ăn xa đã trở về làm công nhân các nhà máy, các hoạt động văn hóa, thể thao ngoài giờ sôi nổi hơn.
Nhưng trở về chỉ bền vững nếu việc làm địa phương tiếp tục nâng chất lượng. Người lao động trẻ cần cơ hội học nghề, thăng tiến và tích lũy kỹ năng. Mô hình phát triển mới mở ra nhu cầu nhân lực trong chuyển đổi số, kinh tế xanh, logistics, công nghiệp chế biến và đổi mới sáng tạo. Địa phương giữ được người tài khi tạo được niềm tin về cơ hội phát triển.
Khi người trẻ có thể sống bằng việc làm tại chỗ, cha mẹ gần con, ông bà gần cháu, nhịp sống của một làng quê cũng đổi khác. Việc làm gần nhà đem lại nhiều hơn một khoản lương.
Bà Sinwon Park, Giám đốc Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam, đặt con người ở trung tâm của quá trình phát triển. Theo bà, khi công nghệ và AI ngày càng đi sâu vào sản xuất, tăng năng suất phải đi cùng việc làm bền vững, kỹ năng và khả năng thích ứng của người lao động. Một mô hình phát triển chỉ bền khi những cơ hội mới được mở ra đủ rộng để người lao động có thể tham gia và hưởng lợi.
Nếu công việc chỉ dừng ở những khâu kỹ năng thấp, thế hệ sau vẫn có thể rời quê tìm cơ hội tốt hơn. Việc làm cần đi cùng cơ hội học nghề, đảm nhận công việc khó hơn và thăng tiến: công nhân trở thành tổ trưởng, kỹ thuật viên, quản lý; doanh nghiệp địa phương tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Khi đó, dự án FDI tạo thêm lý do để người lao động gắn bó lâu dài với nơi mình sống.
Với người lao động, chất lượng việc làm cũng cần được nhìn theo một hành trình dài. Một công việc đủ để trở về quê là bước đầu; cơ hội học thêm, được giao việc khó hơn và có đường thăng tiến mới quyết định họ có muốn ở lại lâu dài hay không. Khi nhà máy thay đổi công nghệ, kỹ năng của người lao động phải có khả năng đi cùng. Nếu không, lợi thế “việc làm gần nhà” có thể mất dần sức hút trước những cơ hội tốt hơn ở nơi khác.
Trả lời phỏng vấn Tạp chí Kinh tế Việt Nam, TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nhìn khái niệm “kiến tạo” từ vai trò của cả Nhà nước và doanh nghiệp. Dũng, Nhà nước tạo thể chế và môi trường thuận lợi, còn doanh nghiệp mở thị trường, phát triển công nghệ, tạo việc làm và nâng sức cạnh tranh. Giá trị lan tỏa của một doanh nghiệp tiên phong vì thế còn nằm ở những gì được hình thành quanh nó: đội ngũ nhân lực, nhà cung ứng, hoạt động đổi mới sáng tạo và khả năng mở thêm cơ hội cho các chủ thể khác.
Một nhà máy có thể làm tăng sản lượng ngay trong năm đầu. Về dài hạn, giá trị còn lại là đội ngũ kỹ sư được đào tạo, nhà cung ứng trong nước được nâng chuẩn, hoạt động R&D và khả năng tiếp nhận công nghệ mới.
Hạ tầng công nghiệp và cảng biển tại Nghi Sơn, Vũng Áng, Chân Mây đã mở ra không gian phát triển mới. Hiệu quả của các dự án sẽ còn được đo bằng sức lớn của doanh nghiệp Việt, trình độ kỹ sư, mức độ làm chủ công nghệ và chất lượng đô thị, dịch vụ hình thành xung quanh.
Ở Vũng Áng, bức tranh công nghiệp cũng đang có thêm những lớp mới. Bên cạnh thép, nhiệt điện và cảng nước sâu, không gian này đã xuất hiện nhà máy ô tô điện và nhà máy pin. Tại Chân Mây, Khu liên hợp sản xuất, lắp ráp Kim Long Motor Huế mở thêm hướng sản xuất phương tiện giao thông xanh. Những dự án ấy đáng chú ý không chỉ bởi công suất. Điều cần theo dõi lâu dài là số kỹ sư Việt làm được việc khó hơn, số nhà cung ứng trong nước được nâng chuẩn và phần công nghệ có thể ở lại sau mỗi vòng đầu tư.
Ở phía quản trị, thời gian xử lý thủ tục cũng bắt đầu được xem như một phần của năng lực cạnh tranh. Quy trình “làn xanh” của Thanh Hóa tổ chức một số khâu lấy ý kiến, thẩm định và trình quyết định theo hướng song song, rút ngắn thời gian đối với hồ sơ đủ điều kiện. Dự án Thung lũng gốm sứ ASEAN Việt Nam, quy mô 33,4 ha, tổng vốn khoảng 200 triệu USD, dự kiến tạo khoảng 4.700 việc làm, là một trường hợp cho thấy hạ tầng ngoài hàng rào và tốc độ xử lý công việc có thể tác động trực tiếp tới quyết định đầu tư.
Bà Francesca Nardini, Phó Trưởng Đại diện Thường trú UNDP tại Việt Nam, lưu ý khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa, cũng như yêu cầu tăng liên kết giữa doanh nghiệp, trường đại học và Nhà nước. Những tập đoàn lớn có thể đưa công nghệ mới vào thị trường, nhưng sức lan tỏa cuối cùng vẫn phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận của doanh nghiệp, trường đại học và đội ngũ lao động trong nước. Một dự án lớn chỉ thật sự trở thành một phần của mô hình phát triển mới khi nó tạo thêm năng lực cho nền kinh tế sở tại.
Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Có những vùng đất càng đi chậm càng thấy nhiều điều đáng giá. Một mái thành rêu phong ở Huế, dòng nước trong veo dưới chân Trường Sơn, hang động được gìn giữ qua triệu năm hay nếp nhà nép bên sườn núi đều có thể mở ra sinh kế mới. Nhưng giá trị không nằm ở việc đón thật đông người hay dựng thêm thật nhiều dịch vụ. Hành trình qua Huế, Sơn Đoòng và những bản làng phía Tây gợi một cách làm khác: để di sản bước vào đời sống hôm nay mà vẻ đẹp, ký ức và phần dành cho mai sau vẫn vẹn nguyên.
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.