news on crab exportmua cua Cà Mau Sỉcua Cà Maumón ăn cua kỳ lạ
VnEconomy
VnEconomy

Thưa ông, so với các quy định về kiểm kê khí nhà kính trước đây, Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật), có hiệu lực từ ngày 25/9/2026, có những điểm mới nổi bật nào?

Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật) có một số điểm mới nổi bật. Theo danh mục cập nhật, số lượng cơ sở phải kiểm kê tăng lên 2.441, cao hơn 275 cơ sở so với danh mục của Quyết định 13/20242 (2.166 cơ sở). Việc bổ sung hàng trăm cơ sở phản ánh nỗ lực rà soát dữ liệu từ các địa phương và mở rộng phạm vi quản lý phát thải theo cam kết Net  Zero của Việt Nam.

Trước hết, các tiêu chí các cơ sở thuộc các lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính vẫn áp dụng theo quy định tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP. Tuy nhiên, về mặt cơ cấu giữa các ngành có sự thay đổi, trong đó công thương vẫn là ngành có số lượng lớn nhất với 1.916 cơ sở, chiếm tỷ lệ gần 80% tổng số cơ sở trong danh mục. Trong đó, lĩnh vực dệt may, da giày và xơ sợi chiếm tỷ lệ 22,69%; ngành luyện kim, cơ khí và chế tạo kim loại chiếm 16,12%, ngành sản xuất sản phẩm nhựa, chất dẻo chiếm 15,08%; ngành sản xuất giấy, sản phẩm từ giấy chiếm 5,79% và ngành sản xuất, phân phối điện, năng lượng chiếm 5,37%...

Trong ngành xây dựng, lĩnh vực này gồm 411 cơ sở, tập trung chủ yếu vào các đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng (chiếm tỷ trọng lớn nhất với 39,58%), sản xuất xi măng (22,69%), sản xuất gạch (8,71%), tòa nhà thương mại (6,60%)… Còn lĩnh vực giao thông vận tải gồm 53 cơ sở, chiếm 2,20% tổng số cơ sở trong danh mục, giảm 22 cơ sở so với danh mục tại Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg (75 cơ sở).

Ngành nông nghiệp và môi trường có 61 cơ sở, tập trung vào nhóm xử lý chất thải tổng hợp (chiếm 64,52%), xử lý chất thải rắn sinh hoạt (6,45%), xử lý và tiêu hủy rác thải không độc hại (4,83%)…

VnEconomy

Việc thực hiện kiểm kê khí nhà kính giữa các cơ sở nằm trong danh mục và các cơ sở được phân bổ hạn ngạch có những điểm khác biệt nào lớn mà các doanh nghiệp cần chú ý không, thưa ông?

Kiểm kê khí nhà kính giữa hai đối tượng cơ sơ này có sự khác nhau rất rõ theo lộ trình quản lý phát thải. Trong kiểm kê khí nhà kính có 3 phạm vi mức độ gồm: Phạm vi 1 (phát thải trực tiếp từ tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch); Phạm vi 2 (phát thải gián tiếp như tiêu thụ điện, tiêu thụ hơi) và Phạm vi 3 (phát thải trong toàn bộ vòng đời sản phẩm).

Hiện nay, yêu cầu báo cáo kiểm kê khí nhà kính với các cơ sơ thuộc danh mục tại Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg bao gồm Phạm vi 1 và Phạm vi 2.

Với các cơ sở được phân bổ hạn ngạch (110 cơ sở), trong việc thực hiện và báo cáo kết quả kiểm kê cần phân tách rõ phát thải trực tiếp (Phạm vi 1) cho các công đoạn sản xuất ra các sản phẩm thuộc đối tượng được thí điểm phân bổ hạn ngạch gồm điện từ nhiện điện, thép thô, clinker. Đây là nguồn phát thải chính của các cơ sở này. Tổng phát thải từ các nguồn này chính là lượng hạn ngạch mà cơ sở được phân bổ hạn ngạch phải “nộp trả”, cụ thể cho giai đoạn thí điểm phân bổ đầu tiên năm 2025-2026 là 31/12/2027.

Phát thải trực tiếp từ các nguồn phụ khác ví dụ sử dụng dầu DO cho máy phát dự phòng, bơm cứu hỏa… rò rỉ môi chất lạnh, xử lý nước thải… phát thải gián tiếp từ tiêu thụ điện năng, mua hơi… sẽ được tách riêng khỏi nguồn phát thải cho công đoạn được phân bổ hạn ngạch. Đây là sự khác biệt lớn nhất về yêu cầu kiểm kê khí nhà kính cho 110 cơ sở được thí điểm phân bổ hạn ngạch giai đoạn 2025- 2026 so với các cơ sở chưa được thí điểm phân bổ hạn ngạch. 

VnEconomy

Với số lượng các cơ sở tăng lên, nhất là những cơ sở lần đầu nằm trong danh mục sẽ gặp không ít khó khăn thách thức trong thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ có những hình thức nào để hỗ trợ các doanh nghiệp nằm trong danh mục thực hiện, tuân thủ đầy đủ và hiệu quả yêu cầu kiểm kê khí nhà kính, thưa ông?

Đây là lần thứ ba Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Thực tế triển khai các quy định trong thời gian qua đã ghi nhận sự chuyển biến rõ nét về nhận thức của các cơ sở, doanh nghiệp trong thực hiện kiểm kê khí nhà kính.

Qua rà soát, đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg, đại đa số các cơ sở thuộc danh mục 2.166 cơ sở đều đã thực hiện kiểm kê khí nhà kính, trừ một số trường hợp giải thể, sáp nhập. Như vậy, đến nay chúng ta đã có nền tảng về nhận thức và kỹ thuật trong thực hiện kiểm kê khí nhà kính của doanh nghiệp.

Khó khăn về mặt nhân lực thực hiện kiểm kê khí nhà kính chủ yếu nằm ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa không có ban kỹ thuật riêng. Về mặt chi phí tuân thủ, trong giai đoạn đầu triển khai (2023-2024), các doanh nghiệp lúng túng tìm đơn vị từ vấn làm báo cáo kiểm kê khí nhà kính để tuân thủ theo quy định.

Tuy nhiên, việc thực thi kiểm kê khí nhà kính tới đây sẽ đơn giản, thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp cả về mặt nhân lực, phương pháp và chi phí triển khai nhờ Hệ thống báo cáo khí nhà kính trực tuyến đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương xây dựng hoàn thiện, công bố trong năm nay.

Hiện nay, các văn bản quy định, hướng dẫn phương pháp thực hiện kiểm kê khí nhà kính đã tương đối đầy đủ, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp triển khai thực hiện. Trong thời gian tới đây, khi hệ thống báo cáo khí nhà kính trực tuyến ra đời có thể áp dụng từ năm 2027, các cơ sở doanh nghiệp nằm trong danh mục sẽ được cấp tài khoản theo VneID. Các doanh nghiệp sẽ tự nhập các thông tin số liệu vào hệ thống và hệ thống sẽ tự động tính toán, lập báo cáo. Điều này cũng sẽ giúp giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho các cơ sở, đồng thời giải bài toán nhân lực cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ.

Không những thế, quá trình nộp báo cáo cũng được thực hiện trực tuyến trên hệ thống giúp tiết kiệm thời gian, đồng thời cơ quan quản lý có thể theo dõi, giám sát thường xuyên, đồng nhất, tránh mất mát hoặc thay đổi số liệu. Trên hệ thống này, các cơ quan quản lý nhà nước từ các bộ đến các địa phương có thể phản hồi thông tin về báo cáo tới các doanh nghiệp.

Theo quy định tại Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, phần lớn các doanh nghiệp này không phải thẩm định báo cáo kiểm kê khí nhà kính. Theo xu hướng, trong thời gian tới, cơ quan quản lý sẽ áp dụng phương thức hậu kiểm. Riêng đối với 110 cơ sở được phân bổ hạn ngạch, sau khi lập báo cáo kiểm kê khí nhà kính cần phải có đơn vị độc lập thẩm định, phục vụ yêu cầu nộp trả hạn ngạch phát thải khí nhà kính.

Ngay sau khi Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg được ban hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã gửi thông báo đến các địa phương, doanh nghiệp. Một số địa phương đã triển khai thực hiện thông qua giao việc cho các cơ quan chuyên môn trực tiếp theo dõi các cơ sở doanh nghiệp thuộc danh mục phải kiểm kê khí nhà kính trên địa bàn.

Trong quá trình triển khai thực hiện, với các doanh nghiệp chưa từng kiểm kê khí nhà kính sẽ gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ, lúng túng, nhất là trong xử lý, chuyển đổi dữ liệu đầu vào cho hệ thống báo cáo trực tuyến.

Để hỗ trợ các doanh nghiệp, trong thời gian qua Cục Biến đổi khí hậu và các đơn vị liên quan, đầu mối phụ trách vấn đề này ở các bộ, ngành thường xuyên đào tạo, hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp, trong đó đặc biệt là vấn đề xử lý số liệu đúng theo yêu cầu.

VnEconomy

Từ thực tế triển khai thực hiện kiểm kê khí nhà kính trong các cơ sở hiện nay, ông có lưu ý, khuyến nghị gì với các doanh nghiệp?

Chúng tôi luôn khuyến cáo các doanh nghiệp nên có cán bộ chuyên trách hoặc phòng ban chuyên trách về kiểm kê khí nhà kính để lưu trữ số liệu. Điều này là rất quan trọng và cần thiết, bởi nếu trong tương lai doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp lớn) được phân bổ hạn ngạch, hoặc tham gia thị trường carbon, thì kết quả kiểm kê khí nhà kính sẽ là nền tảng đầu tiên.

Vì vậy, tôi cho rằng dữ liệu và báo cáo càng chính xác sẽ càng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc chuẩn bị tham gia thị trường carbon (kể cả thị trường carbon tuân thủ và thị trường carbon tự nguyện, thị trường trong nước cũng như quốc tế).

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng nên có hệ thống lưu trữ và xử lý số liệu riêng biệt về phát thải khí nhà kính của đơn vị mình.

VnEconomy

Thưa ông, việc kiểm kê khí nhà kính được coi như “bắt bệnh” để từ đó các doanh nghiệp có các giải pháp giảm phát thải một cách phù hợp và hiệu quả. Theo ông, đâu là điểm mấu chốt để những kết quả kiểm kê chuyển thành hành động, quyết định của doanh nghiệp trong phát triển sản xuất bền vững?

Theo tôi, điểm mấu chốt ở chỗ qua thực hiện kiểm kê, doanh nghiệp sẽ phát hiện ra những khâu phát thải khí nhà kính nhiều nhất hoặc những khâu chưa hiệu quả để có giải pháp khắc phục, hướng tới mục tiêu sản xuất bền vững. Ví dụ, với một doanh nghiệp có nguồn phát thải trực tiếp từ đốt nhiên liệu hóa thạch có thể thay thế bằng những nhiên liệu khác mang lại hiệu quả hơn cả về mặt kinh tế, môi trường, giảm phát thải.

Kết quả kiểm kê khí nhà kính sẽ phản ánh đầy đủ tất cả các nguồn phát thải cả trực tiếp và gián tiếp của cơ sở, doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhìn vào kết quả kiểm kê khí nhà kính sẽ biết được thực trạng phát thải của mình và biết cần phải cải thiện ở khâu nào để phát triển sản xuất bền vững.

Để giảm phát thải đòi hỏi doanh nghiệp cần đầu tư chi phí ban đầu nhất định. Tuy nhiên, về mặt trung hạn và dài hạn sẽ mang lại hiệu quả lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt với các doanh nghiệp nằm trong chuỗi cung ứng, hệ sinh thái của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn có các tiêu chí xanh, ESG… Hiện nay, các tiêu chuẩn xanh, ESG, giảm phát thải, đang được các đối tác trong và ngoài nước, nhất là các đối tác quốc tế yêu cầu ngày càng khắt khe hơn với các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, hệ sinh thái.

Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, thị trường càng ngày càng xuất hiện nhiều rào cản thương mại. Điển hình như Cơ chế CBAM của châu Âu hoặc hiện nay, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia cũng đang xây dựng các cơ chế bảo hộ, trong đó sử dụng phát thải khí nhà kính là một công cụ để bảo hộ thêm cho doanh nghiệp trong nước. Nếu phát thải khí nhà kính trên đơn vị sản phẩm của doanh nghiệp nhập khẩu cao hơn doanh nghiệp ở trong nước, các thị trường này sẽ yêu cầu doanh nghiệp nhập khẩu phải nộp thuế.

Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề này, các doanh nghiệp cần có hành động để hiện thực hóa chuyển đổi xanh, đáp ứng tiêu chuẩn ESG, giảm phát thải do các thị trường, khách hàng, đối tác trong chuỗi cung ứng yêu cầu. Doanh nghiệp phải chứng minh đã có hoạt động, chi phí dành cho giảm phát thải khí nhà kính ở trong nước trước khi xuất khẩu sản phẩm hàng hóa.

Không chỉ các đơn vị tham gia xuất khẩu, trước xu thế toàn cầu hóa, sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp đều nằm trong hệ sinh thái, chuỗi cung ứng lớn từ trong nước tới quốc tế. Do đó, các doanh nghiệp trong hệ sinh thái, chuỗi cung ứng đều phải chịu sức ép về sản xuất bền vững, giảm phát thải.

Thông qua thực hiện kiểm kê khí nhà kính sẽ là nền tảng để các doanh nghiệp chứng minh những hành động của mình trong sản xuất bền vững, giảm phát thải, phát triển xanh với các đối tác, công ty mẹ trong hệ sinh thái, chuỗi cung ứng. Việc triển khai trong thực tế và theo lộ trình nào phụ thuộc vào năng lực của từng doanh nghiệp.

Về quản lý nhà nước, hoạt động quản lý kiểm soát phát thải của doanh nghiệp sẽ dần thắt chặt, trong đó điển hình là việc phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho 110 cơ sở để từ đó có lộ trình giảm cụ thể. Trong thời gian tới, số lượng các đơn vị được phân bổ hạn ngạch sẽ dần mở rộng hơn.

Song song với đó, cơ quan quản lý cũng khuyến khích các doanh nghiệp chưa nằm trong diện bắt buộc phải thực hiện, nên sớm triển khai hoạt động kiểm kê khí nhà kính, giảm phát thải. Điều này sẽ có tác động tích cực tới hình ảnh, thương hiệu và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Kiểm kê khí nhà kính không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ, mà đã trở thành nền tảng cạnh tranh trong bối cảnh các yêu cầu tiêu chuẩn xanh ngày càng được các thị trường chú trọng như CBAM, các yêu cầu xanh từ khách hàng quốc tế. Doanh nghiệp hành động sớm sẽ chuyển được sức ép tuân thủ thành lợi thế trên thị trường.

VnEconomy

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 40-2026 phát hành ngày 05/10/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây: 

Link: https://premium.vneconomy.vn/doc-thu-an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-40-2026.html

VnEconomy

Từ nguồn lực đến năng lực sáng tạo

Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.

Chuyển đổi nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng để gia tăng giá trị

Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.

Khai mở kho báu di sản

Có những vùng đất càng đi chậm càng thấy nhiều điều đáng giá. Một mái thành rêu phong ở Huế, dòng nước trong veo dưới chân Trường Sơn, hang động được gìn giữ qua triệu năm hay nếp nhà nép bên sườn núi đều có thể mở ra sinh kế mới. Nhưng giá trị không nằm ở việc đón thật đông người hay dựng thêm thật nhiều dịch vụ. Hành trình qua Huế, Sơn Đoòng và những bản làng phía Tây gợi một cách làm khác: để di sản bước vào đời sống hôm nay mà vẻ đẹp, ký ức và phần dành cho mai sau vẫn vẹn nguyên.

Đồng bộ dữ liệu để người dân TP. Hồ Chí Minh hưởng lợi từ chuyển đổi số

Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.

Công nghiệp Thủ đô: Bảy thập kỷ chuyển mình và bứt phá

Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.

Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy