Với cơ chế CBAM, thời gian chính thức các doanh nghiệp cần phải làm báo cáo đang đến rất gần (từ ngày 1/1/2026). Đặc biệt với các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu sang EU, nhất là doanh nghiệp đến từ 6 nhóm ngành (xi măng, sắt thép, nhôm, phân bón, điện và hydro).
Tại Chương trình với chủ đề: “Kiểm kê khí nhà kính 2026: Cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp sản xuất Việt Nam xuất khẩu sang EU” do Công ty cổ phần Net Zero Việt Nam tổ chức ngày 25/11/2025, bà Lan Nguyễn, Giám đốc Khoa học và đồng sáng lập Công ty Cổ phần Nuoa, chia sẻ góc nhìn vì sao kiểm kê khí nhà kính trở thành yêu cầu bắt buộc từ năm 2026 và cách doanh nghiệp xác định nguồn phát thải, loại dữ liệu cần chuẩn bị.
Chương trình cũng giúp doanh nghiệp hiểu rõ sự khác biệt giữa kiểm kê khí nhà kính, CBAM, các yêu cầu Scope 1–2–3 từ phía nhà nhập khẩu EU và dấu chân carbon sản phẩm, qua đó tránh được những nhầm lẫn thường gặp khi trao đổi với khách hàng quốc tế.
Từ những kiến thức này, doanh nghiệp có thể xây dựng kế hoạch hành động thực tế để chủ động chuẩn bị dữ liệu, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu từ thị trường EU và mở rộng cơ hội xuất khẩu bền vững trong giai đoạn tới.
Trong bối cảnh các thị trường lớn trên thế giới, đặc biệt là Liên minh Châu Âu, đang siết chặt các yêu cầu về phát thải và chuỗi cung ứng bền vững, kiểm kê khí nhà kính đang trở thành một tiêu chuẩn bắt buộc đối với doanh nghiệp sản xuất Việt Nam.
Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) là một chính sách của Liên minh châu Âu (EU) nhằm áp thuế carbon lên hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác, đánh dấu bước đi mạnh mẽ trong nỗ lực cắt giảm khí thải toàn cầu- đã chính thức được EU thí điểm áp dụng giai đoạn chuyển tiếp từ ngày 1/10/2023.
Với lộ trình áp dụng đầy đủ từ năm 2026, chính sách này được đánh giá sẽ tác động sâu rộng đến hoạt động xuất khẩu của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam- nơi nhiều ngành sản xuất cũng đang có kết nối trực tiếp với thị trường châu Âu.
Từ năm 2026, việc kiểm kê đầy đủ và minh bạch theo chuẩn quốc tế không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu pháp lý mà còn là yếu tố quyết định để duy trì hợp đồng xuất khẩu, giảm rủi ro bị loại khỏi chuỗi cung ứng và củng cố uy tín với các nhà mua hàng EU. Kiểm kê khí nhà kính không đơn thuần là một thủ tục, mà là công cụ giúp doanh nghiệp quản lý dữ liệu phát thải, tối ưu vận hành, nhận diện rủi ro và nắm bắt cơ hội chuyển đổi xanh trong dài hạn.
Chia sẻ vấn đề này, bà Lan Nguyễn cho biết các nhà hoạch định chính sách EU đã có hành động điều chỉnh chặt chẽ hơn lượng phát thải khí nhà kính GHG, đặc biệt là thúc đẩy khả năng hiển thị về khí hậu của chuỗi cung ứng. Các quy định đang thúc đẩy doanh nghiệp áp dụng kiểm kê trên cả 3 phạm vi và xuyên suốt chuỗi cung ứng, có tác động lan tỏa đến các nhà cung cấp trên toàn thế giới.
Điển hình như Chỉ thị báo cáo và thẩm định trách nhiệm phát triển bền vững trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp CSRD/CSDDD và cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM).
Trong đó, CSRD/CSDDD sẽ áp dụng từ 2027 dành cho các tập đoàn lớn. Quy định này không chỉ yêu cầu báo cáo về dấu chân carbon, phát thải khí nhà kính mà còn các vấn đề liên quan về năng lượng, con người và trách nhiệm xã hội. CSRD/CSDDD cũng yêu cầu các bên phải đưa ra được lộ trình giảm phát thải, minh bạch số liệu từ phía nhà cung ứng. Đây là bài toán khá phức tạp với các doanh nghiệp ở EU. Các đơn vị từ EU sẽ có những yêu cầu khắt khe về chất lượng dữ liệu đến từ các nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng.
Với cơ chế CBAM, chuyên gia lưu ý, thời gian chính thức các doanh nghiệp cần phải làm báo cáo đang đến rất gần (từ 1/1/2026). Đặc biệt với các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu sang EU, nhất là doanh nghiệp đến từ 6 nhóm ngành (xi măng, sắt thép, nhôm, phân bón, điện và hydro).
Các nhà nhập khẩu hàng hóa vào EU thuộc phạm vi của CBAM ở 6 nhóm ngành này và các nhà cung ứng của họ sẽ là những đối tượng chính bị ảnh hưởng. Cơ chế tập trung yêu cầu các nhà xuất khẩu công bố lượng phát thải theo các đơn vị sản phẩm xuất khẩu.
Theo phân tích của các chuyên gia, sẽ có khoảng 11 nhóm ngành hàng hoặc tiểu ngành hàng bị tác động bởi cơ chế này, trong đó chủ yếu là các ngành hàng liên quan đến tiêu thụ năng lượng, phát thải. Những ngành hàng như nhôm, xi măng, sắt thép, hóa chất sẽ bị tác động trực tiếp, còn những ngành hàng bị liên quan gián tiếp sẽ là điện tử, chế biến thực phẩm, giấy, nhựa, may mặc…
Trong giai đoạn chuyển tiếp đến cuối năm 2025, doanh nghiệp xuất khẩu cần thực hiện báo cáo định kỳ lượng phát thải liên quan đến hàng hóa xuất khẩu vào EU và thuế carbon đã nộp tại quốc gia xuất xứ. Từ năm 2026, doanh nghiệp sẽ phải mua chứng chỉ CBAM để bù trừ lượng phát thải nếu chưa có cơ chế định giá carbon trong nước. Do đó, việc thiết lập thị trường carbon tại Việt Nam là bước đi cấp thiết, giúp giảm chi phí tuân thủ CBAM và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường châu Âu.
Bà Lan Nguyễn chia sẻ có một số nước có thị trường giao dịch giấy phép phát thải tương đương thị trường giao dịch giấy phép phát thải của EU cũng là một trong những cách thức để các nhà xuất khẩu giảm gánh nặng về báo cáo và chi phí có thể phát sinh từ thuế này. Đây cũng là lý do chính cho việc đẩy mạnh phát triển thị trường carbon bắt buộc trong nước ở Việt Nam.
Ngoài rác các chính sách xuyên biên giới, kinh doanh và tài chính về biến đổi khí hậu cũng đang định hình hoạt động kinh doanh trên toàn cầu. Trong đó, có cam kết về khí hậu của các tập đoàn lớn nhất thế giới đang định hình lại chuỗi cung ứng. Các công ty nằm trong danh sách 500 Fortune Global đã có các cam kết khí hậu tới năm 2050.
Ngoài ra đầu tư xanh, nguồn vốn xanh đã trở thành một xu hướng lớn trong thị trường vốn. Gần đây là các cơ chế để các bên có thể phát hành trái phiếu có gắn với tiêu chí xanh như ESG, bảo vệ môi trường, giảm phát thải.
Theo bà Lan Nguyễn, xu hướng đầu tư xanh không chỉ tạo động lực, cơ hội cho các doanh nghiệp trên thế giới mà cả ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, người tiêu dùng ngày càng ưu tiên những sản phẩm thân thiện với môi trường và sẵn sàng trả phí cao hơn cho các sản phẩm đó.
Theo các chuyên gia, hàng hóa xuất khẩu sang EU nếu vi phạm môi trường sẽ bị người tiêu dùng phản ứng, có thể bị tẩy chay. Hàng hóa của các doanh nghiệp sẽ đối mặt với nguy cơ suy giảm lợi thế cạnh tranh, ảnh hưởng tới uy tín hàng hóa của quốc gia tại EU, mất thị trường.
Có thể thấy, thách thức đặt ra cho doanh nghiệp, nhất là đối với các ngành phát thải lớn là không nhỏ. Do đó, các doanh nghiệp cần sớm nhận diện tác động từ thị trường carbon và CBAM của EU.
Hiện nay, theo Nghị định 06 và Nghị định 119, kiểm kê khí nhà kính là cơ sở để phân bổ hạn ngạch phát thải và thực hiện nghĩa vụ tuân thủ. Vì vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu thép và xi măng… vào EU cần chủ động xây dựng năng lực kiểm kê, chuẩn bị các báo cáo theo mẫu bảng biểu của EU, tìm hiểu các cơ chế liên quan đến mua chứng chỉ CBAM để bù trừ phát thải.
Ngay cả khi chưa thuộc diện chịu ảnh hưởng, doanh nghiệp vẫn nên chủ động kiểm kê phát thải khí nhà kính, xây dựng đội ngũ chuyên trách và đánh giá rủi ro - cơ hội từ việc tham gia thị trường.
Theo chuyên gia, việc kiểm kê khí nhà kính không chỉ hỗ trợ tuân thủ quy định trong nước mà còn giúp doanh nghiệp thích ứng nếu CBAM mở rộng phạm vi áp dụng trong tương lai. Dù CBAM mang đến thách thức với chi phí tuân thủ tăng, doanh nghiệp tiên phong giảm phát thải sẽ có lợi thế trong các thị trường khắt khe như EU.
Bà Lan Nguyễn nhấn mạnh, giảm phát thải không chỉ để đáp ứng yêu cầu pháp lý hay đối tác mà còn giúp các doanh nghiệp tăng doanh thu, giảm chi phí và tăng giá trị doanh nghiệp, có thể tham gia thị trường carbon.




Chính quyền Tổng thống Donald Trump đang tìm cách xem xét lại giấy phép của một dự án điện gió ngoài khơi tại bang Massachusetts, đánh dấu dự án thứ tư bị nhắm tới trong những tháng gần đây. Động thái này làm dấy lên lo ngại về nguy cơ gia tăng bất ổn đối với các dự án năng lượng và phá vỡ nỗ lực cải cách quy trình cấp phép tại Mỹ…
Để xử lý lượng tro bay từ các nhà máy điện rác, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết trong giai đoạn trước mắt vẫn được chôn lấp nhưng về lâu dài, thành phố định hướng chuyển từ chôn lấp sang tái chế, tận dụng tro bay làm nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng. Chậm nhất sau 2 năm thực hiện phương án chôn lấp, các nhà máy phải đưa ra giải pháp kỹ thuật xử lý tro bay...
Từ tái thiết nhà ở, phát triển hạ tầng năng lượng tại Thổ Nhĩ Kỳ đến xây dựng thành phố mới New Tashkent ở Uzbekistan, các nhà quy hoạch đang tìm cách giúp đô thị tăng khả năng chống chịu trước nắng nóng, hạn hán và những sức ép môi trường ngày càng lớn…
Đà Nẵng đang ưu tiên định hướng nguồn viện trợ vào các dự án kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời tăng cường tiếp nhận công nghệ xanh và đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, doanh nghiệp nhỏ và vừa...
Tại phiên chất vấn lĩnh vực môi trường, các đại biểu HĐND TP.Hà Nội tập trung đặt vấn đề những bất cập trong quy hoạch, phân cấp quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn. Thành phố xác định tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại, rà soát phương thức tổ chức dịch vụ vệ sinh môi trường, đẩy mạnh phân loại, thu gom, tái chế, hướng tới nâng cao hiệu quả xử lý rác thải và giảm dần chôn lấp…
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Các loại hình nhà ở người nước ngoài có thể tiếp cận; điều kiện giao dịch và hạn mức sở hữu tại từng dự án; những trở ngại khi mua, thuê hoặc bố trí chỗ ở cho chuyên gia… cùng những giải pháp tháo gỡ đã được đưa ra bàn thảo công khai.