Vậy là đã sắp trôi qua những ngày hè mà chúng ta thường gọi là “mùa vàng” du lịch của năm. Ấy thế nhưng, dù đã chuyển hướng sang du lịch nội địa, các doanh nghiệp lữ hành vẫn chịu cảnh “ngủ đông” suốt những tháng hè do dịch bệnh diễn biến phức tạp. Hệ quả là hơn 90% đơn vị lữ hành đóng cửa, chỉ còn một số doanh nghiệp lớn hoạt động cầm chừng nhưng cũng cắt giảm tối đa nhân sự, chỉ giữ lại bộ khung.
Điều khiến nhiều doanh nghiệp du lịch đau đầu nhất lúc này, theo chia sẻ của ông Phùng Quang Thắng, Giám đốc Công ty Lữ hành Hanoitourist, là giữ chân người lao động để doanh nghiệp có thể sẵn sàng quay trở lại hoạt động ngay khi dịch bệnh được kiểm soát. “Du lịch là ngành đặc thù, đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao, cần thời gian dài tích lũy kinh nghiệm và đào tạo bằng thực tế trải nghiệm, có khi phải mất hàng chục năm mới đào tạo được một lao động mới trở thành chuyên nghiệp,” ông Thắng nói.
Chia sẻ với phóng viên, ông Cao Chí Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng cho biết, trước đại dịch, Đà Nẵng có 56 nghìn lao động trực tiếp trong lĩnh vực du lịch. Theo khảo sát mới nhất, đến thời điểm này, có khoảng 3/4 số lao động trong ngành du lịch đã tạm ngừng việc, thất nghiệp và rơi vào tình trạng chật vật.
Nhiều hướng dẫn viên phải chạy xe ôm, giao hàng, làm thợ cắt tóc, bán hàng online, khá hơn thì đi dạy ngoại ngữ,… thậm chí nhiều giám đốc, quản lý trong ngành du lịch cũng phải chuyển đổi ngành nghề như trồng rau sạch, bán gạo, mở cửa hàng thực phẩm, mở công ty vệ sinh công nghiệp,… Tất cả cốt để mưu sinh cuộc sống hàng ngày. Nhưng nếu tình trạng này kéo dài, liệu có ai còn tâm huyết để chờ đến ngày quay lại với du lịch khi thị trường hồi sinh?
Thực tế, nhiều lao động sau nghỉ việc đã tìm được việc thích hợp, có thu nhập tương đương như trước, đam mê với du lịch đã mai một đang khiến họ không có nhu cầu quay trở lại ngành. Việc dịch bệnh tái bùng phát lần này rồi lần khác khiến nhân sự ngành du lịch có xu hướng cho rằng công việc của mình ở trạng thái bấp bênh, vì vậy họ có xu hướng chuyển sang các công việc ổn định hơn. Rõ ràng nhân lực du lịch đang bị “bào mòn” gần hết trong đại dịch. Khi du lịch hồi sinh, bù đắp sự thiếu hụt nguồn nhân lực sẽ hết sức bức thiết.
Về phía Chính phủ cũng đã có nhiều biện pháp hỗ trợ, gần đây nhất là Nghị quyết 68/NQ-CP về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, trong đó có nhân sự ngành du lịch. Theo đó, kinh phí hỗ trợ với hướng dẫn viên du lịch gặp khó khăn do đại dịch theo quy định tại Nghị quyết số 68 là 3.710.000/đồng/người, theo phương thức chi trả một lần. Tuy nhiên, nhiều hướng dẫn viên du lịch cho biết vẫn chưa nhận được hỗ trợ do vướng mắc trong điều kiện.
Cụ thể, hướng dẫn viên chỉ được hỗ trợ khi có thẻ hành nghề và có hợp đồng lao động với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành hoặc là hội viên các Hiệp hội về hướng dẫn du lịch... Trong khi đó, gần 90% số hướng dẫn viên đang hoạt động là hướng dẫn viên tự do, đa phần được ký hợp đồng thời vụ, hợp đồng vụ việc theo tour... Chính vì vậy, nhiều hướng dẫn viên mong mỏi sẽ có sự linh hoạt để nhận được hỗ trợ từ phía Chính phủ.
Có thể nói, qua bốn lần dịch bùng phát, nhân lực du lịch xuất hiện một khoảng trống rất lớn không thể khỏa lấp trong ngày một ngày hai. Việc giữ chân những lao động chuyên nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để chuẩn bị cho sự phục hồi du lịch là bài toán cần giải bằng nhiều phương pháp.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Công Hoan, Tổng Giám đốc Flamingo Redtours cho rằng, doanh nghiệp nên cố gắng giữ một bộ phận nhân sự tối thiểu, duy trì kết nối bằng cách giao ban trực tuyến hàng tuần, lập các nhóm tương tác để trao đổi nhằm duy trì kỹ năng chuyên môn. Đồng thời vẫn cần trả một phần lương cho nhân viên, tạo điều kiện cho họ được đóng bảo hiểm xã hội. Các nhân sự có kỹ năng bán hàng, marketing, phiên dịch, truyền thông… có thể tạo điều kiện để họ được làm nghề tay trái, bù đắp thu nhập trong khi chưa biết khi nào đại dịch kết thúc.
Từ phía Hiệp hội du lịch, ông Cao Chí Dũng chia sẻ, việc duy trì lực lượng lao động du lịch phụ thuộc vào ba yếu tố. Thứ nhất là các chính sách hỗ trợ của chính phủ, của các địa phương, hiệp hội. Thứ hai là dựa vào khả năng của từng doanh nghiệp cả về tiềm lực tài chính lẫn độ linh hoạt chuyển đổi công việc thay thế. Thứ ba là ở chính người lao động. Người lao động một mặt chủ động tìm kiếm công việc tạm thời nhưng vẫn giữ đam mê với ngành để có thể trở lại làm việc khi thị trường phục hồi.
Ông Dũng nêu dẫn chứng, tại Đà Nẵng, Hiệp hội Du lịch thành phố đã phối hợp với Liên đoàn lao động thành phố, nhiều tổ chức nghề nghiệp để triển khai các lớp đào tạo, nâng cao tay nghề, nhất là việc chuyển đổi số để người lao động có được một số nhóm chuyên môn mới. Đà Nẵng cũng tạo điều kiện để người lao động trong lĩnh vực du lịch được tiếp cận một số nguồn vay không thế chấp nhằm trang trải cuộc sống. “Những biện pháp này của Đà Nẵng được kỳ vọng sẽ duy trì được nguồn lao động du lịch để sẵn sàng cho sự phục hồi của thị trường,” ông Dũng bày tỏ.
Giám đốc Công ty Lữ hành Hanoitourist Phùng Quang Thắng cho biết, trong thời gian giãn cách xã hội, công ty tổ chức đào tạo trực tuyến cho gần 60 người lao động để chuẩn bị cho “chiến dịch du lịch bình thường mới”, dự kiến khởi động ngay khi dịch Covid-19 được kiểm soát. “Chúng tôi giúp người lao động có thêm kỹ năng sử dụng mạng xã hội để quảng bá, xây dựng sản phẩm, xử lý tình huống phát sinh ca nghi nhiễm Covid-19,” ông Phùng Quang Thắng nói.
Ông Phạm Duy Nghĩa, Giám đốc Công ty VietFoot Travel thì cho rằng tốc độ phục hồi của du lịch phụ thuộc nhiều vào tốc độ tiêm vaccine toàn dân, chỉ khi xã hội an toàn, người dân mới an tâm để đi du lịch. Cùng với đó, lực lượng lao động trong ngành du lịch cũng cần được ưu tiên tiêm vaccine để có thể sẵn sàng hoạt động trở lại trong thời gian sớm nhất.




Công ty Cổ phần Di chuyển Xanh và Thông minh GSM (Green SM) và Công ty Cổ phần Công nghệ KiotViet công bố ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược nhằm kết nối các giải pháp quản lý bán hàng, giao nhận và di chuyển xanh.
Cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao kỹ năng và bảo đảm an sinh cho người lao động đang trở thành giải pháp quan trọng giúp doanh nghiệp tôm, lúa gạo Việt Nam nâng sức cạnh tranh. Thông qua dự án phối hợp giữa VCCI-HCM và Oxfam tại Việt Nam, hơn 100 doanh nghiệp được hỗ trợ cải tiến quản trị, hơn 23.500 lao động hưởng lợi, góp phần thúc đẩy thực hành kinh doanh có trách nhiệm và đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững của thị trường quốc tế...
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.
Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (SABECO) vừa ghi nhận dấu mốc đáng chú ý khi Tổng giám đốc Lester Tan được VCCI vinh danh “Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu - Cúp Thánh Gióng 2026”.
Ngày 13/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) phối hợp với Hội Khoa học kỹ thuật An toàn thực phẩm Việt Nam tổ chức Hội thảo “Đóng góp ý kiến cho Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi)”...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.