
“Chúng tôi mong muốn một môi trường kinh doanh với phong cách làm việc nhanh gọn, sự chính xác và rõ ràng trong các bộ luật tại Việt Nam”, ông Fukuda Hiroki, Tổng giám đốc Tập đoàn KDDI Việt Nam, nói.
Đến Việt Nam từ gần 20 năm trước nhưng tập đoàn viễn thông công nghệ này của Nhật Bản vẫn chỉ dừng ở việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông cho các nhà đầu tư Nhật Bản tại Việt Nam. Vì sao như vậy?
Ông Fukuda Hiroki giải thích:
- Tập đoàn chúng tôi đã có mặt tại Việt Nam từ năm 1996. KDDI đến Việt Nam cùng lúc với làn sóng đầu tư từ Nhật Bản hướng tới thị trường Việt Nam và khách hàng mục tiêu của chúng tôi tại thời điểm đó là các doanh nghiệp Nhật Bản. Các sản phẩm cung ứng chủ yếu là sản phẩm và dịch vụ hạ tầng, các giải pháp công nghệ cho doanh nghiệp.
Sau đó 4 năm, chúng tôi chính thức có giấy phép và bắt đầu hoạt động. Tuy nhiên, do các quy định cho các doanh nghiệp viễn thông đến từ nước ngoài, chúng tôi không thể cung cấp các dich vụ về truyền thông vốn là hoạt động chủ yếu của công ty tại Nhật Bản, nên đã triển khai kinh doanh cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin.
Vậy chiến lược phát triển của KDDI tại thị trường Việt Nam hiện tại là gì, thưa ông?
Mặc dù đã ở Việt Nam một thời gian khá dài, nhưng đến thời điểm này, khách hàng chủ yếu của chúng tôi vẫn là các doanh nghiệp Nhật Bản. Dù vậy, chúng tôi vẫn đang nghĩ đến việc tiếp cận khách hàng là công ty Việt Nam với những giải pháp thuộc thế mạnh của mình.
Đó là những giải pháp B2C
(doanh nghiệp đến khách hàng - PV)
, theo hướng sẽ cung cấp một số dịch vụ về cung cấp phần mềm lưu trữ dữ liệu, xây dựng trung tâm lưu trữ dữ liệu. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn gặp khó khăn trong định hướng phát triển này.
Bởi vì, doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu và cách làm việc rất khác với các đối tác Nhật.
Chúng tôi cần thời gian nghiên cứu và hy vọng sẽ có thể đáp ứng nhu cầu của thị trường Việt Nam trong thời gian tới.
Ông nghĩ gì về môi trường đầu tư của Việt Nam? Theo ông, Chính phủ Việt Nam cần làm gì để thu hút thêm ngày càng nhiều nhà đầu tư Nhật Bản đến Việt Nam?
Theo tôi, môi trường đầu tư Việt Nam có nhiều điểm thuận lợi trong thu hút doanh nghiệp nước ngoài đến Việt Nam. Cho dù, với nhiều năm làm việc tại đây, tôi nhận thấy vẫn còn một số điểm hạn chế.
Từ góc độ chính sách, có nhiều chính sách về lao động và thuế chưa hỗ trợ doanh nghiệp Nhật Bản mở rộng kinh doanh tại Việt Nam.
Chẳng hạn, những khó khăn trong trong việc thuê nhân viên người Nhật Bản tại công ty Nhật, như việc xin giấy phép làm việc rất phức tạp. Để mở rộng quy mô hoạt động, cũng như để đảm bảo chất lượng Nhật Bản, việc tăng lao động Nhật Bản trở nên thiết yếu. Thế nhưng, Luật Lao động Việt Nam hiện nay lại có xu hướng hạn chế việc tuyển lao động nước ngoài.
Do đó, theo tôi, việc xây dựng một môi trường thuận lợi để làm việc cho người nước ngoài là rất quan trọng.
Thứ hai, về các chính sách thuế. Việc thực thi các thủ tục thuế của Việt Nam đôi khi có sự bất nhất từ cấp lãnh đạo đến các cán bộ thực thi. Trong một số trường hợp, từ văn bản đến thực tế áp dụng có nhiều cách hiểu khác nhau với cùng một vấn đề.
Do đó, trong nhiều trường hợp, nhân viên hành chính thuế người Việt Nam của chúng tôi đã gặp nhiều khó khăn, bối rối. Đây không chỉ là vấn đề của KDDI mà là vấn đề chung của nhiều doanh nghiệp Nhật Bản khác.
Vì vậy, chúng tôi mong muốn một môi trường kinh doanh với phong cách làm việc nhanh gọn, sự chính xác và rõ ràng trong các bộ luật tại Việt Nam, không chỉ là luật lao động hay luật thuế.




Khi vốn và công nghệ chỉ tạo ưu thế ngắn hạn, văn hóa doanh nghiệp là nguồn lực nội sinh quyết định sức mạnh dài hạn. Đặt văn hóa làm trung tâm mọi quyết định, chuyển hóa giá trị thành hành vi ứng xử thường ngày sẽ kiến tạo năng lực cạnh tranh cốt lõi để phát triển bền vững...
Với sự hiện diện ngày càng nhiều các tập đoàn công nghệ và sản xuất toàn cầu tại Bắc Ninh, câu chuyện đặt ra không đơn thuần là Bắc Ninh có bao nhiêu căn hộ có thể bán, hoặc cho người nước ngoài thuê mà là địa phương cần tạo dựng môi trường sống như thế nào để tương xứng với quy mô và chất lượng của dòng vốn FDI thế hệ mới…
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 41-2026 phát hành ngày 12/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
AI đang tái cấu trúc nền kinh tế toàn cầu, biến thương hiệu từ một công cụ truyền thông thuần túy trở thành tài sản chiến lược cốt lõi. Để thoát khỏi bẫy gia công giá trị thấp và chinh phục thị trường trong thời đại AI, các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải chuyển đổi tư duy, lấy dữ liệu và công nghệ làm bệ phóng tăng trưởng...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.