Chỉ tiêu cán cân thanh toán quốc tế đã được cơ quan thống kê chính thức đưa vào Niên giám Thống kê từ năm 2022, với chuỗi số liệu từ năm 2015 đến nay. Tuy nhiên, đến nay các cơ quan quản lý nhà nước như tài chính, ngân hàng, kế hoạch, cũng như giới nghiên cứu và chuyên gia kinh tế, vẫn chưa có nhiều bình luận và phân tích chuyên sâu về diễn biến cán cân thanh toán của Việt Nam.
Bài viết này chỉ tập trung bình luận sơ bộ về chỉ tiêu cán cân thanh toán trên hai khía cạnh: kết quả tích cực đạt được và một số vấn đề đặt ra trong điều hành kinh tế vĩ mô.
Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm: cán cân tổng thể, cán cân vãng lai, cán cân tài chính và khoản sai sót, thiếu hụt thống kê. Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong cân đối cán cân thanh toán quốc tế, song vẫn tồn tại không ít hạn chế và thách thức. Một số cấu phần vẫn ở trạng thái thâm hụt, trong khi thặng dư ở một số cấu phần khác còn mỏng và thiếu bền vững, khiến cán cân tổng thể và quy mô dự trữ ngoại hối chưa đạt mức ổn định dài hạn.
Cán cân tổng thể của Việt Nam thời gian qua đã đạt thặng dư trong nhiều năm (biểu đồ 1). Trong giai đoạn 8 năm, cán cân tổng thể có 5 năm thặng dư, trong đó 3 năm đạt mức thặng dư khá. Thặng dư cán cân tổng thể đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện các cân đối vĩ mô và đạt được một số kết quả tích cực.
Dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã tăng đáng kể, từ mức rất mỏng trong giai đoạn trước đó lên mức khá vững chắc. Biểu đồ 2 cho thấy trong một số năm, quy mô dự trữ ngoại hối đã vượt mốc 100 tỷ USD (năm 2019 và 2020). Nhờ đó, trong một số thời kỳ, Việt Nam cơ bản bảo đảm được an toàn tài chính quốc gia, với mức dự trữ ngoại hối cao hơn dư nợ nước ngoài ngắn hạn hoặc tương đương, thậm chí vượt ngưỡng ba tháng nhập khẩu theo thông lệ quốc tế.
Về quy mô dự trữ ngoại hối, Việt Nam xếp khoảng thứ 29-30 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh. Thứ hạng này thấp hơn thứ hạng về quy mô dân số, nhưng cao hơn thứ hạng khoảng 32 về tổng GDP danh nghĩa (tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái). Nếu tính theo bình quân đầu người và theo tỷ lệ dự trữ ngoại hối/GDP, thì trong một số năm, chỉ tiêu của Việt Nam đạt mức cao hơn hoặc tương đương với thứ hạng về quy mô GDP, phản ánh sự cải thiện đáng kể về năng lực tích lũy dự trữ ngoại hối so với quy mô nền kinh tế.
Quy mô dự trữ ngoại hối được cải thiện đã tạo dư địa cho Việt Nam thực hiện các biện pháp kích cầu và ổn định kinh tế vĩ mô khi chịu tác động tiêu cực từ các cú sốc bên ngoài, như cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu cuối năm 2008, cũng như đại dịch Covid-19 giai đoạn 2020-2021.
Với mức dự trữ ngoại hối tương đối khá, dòng ngoại tệ vào nền kinh tế dồi dào và công tác điều hành chính sách tiền tệ chủ động của Ngân hàng Nhà nước, tình trạng đầu cơ ngoại tệ đã được hạn chế, góp phần duy trì ổn định tỷ giá VND/USD trong nhiều năm.
Ngoại trừ hai năm biến động mạnh (2010-2011), từ năm 2012 đến nay, tỷ giá USD/VND nhìn chung ổn định; một số năm mức tăng rất thấp, thậm chí có năm giảm. Diễn biến tích cực này xuất phát từ nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là sự gia tăng dự trữ ngoại hối và thặng dư cán cân thanh toán quốc tế, cùng với các nhân tố nền tảng như: xuất khẩu hàng hóa vượt nhập khẩu hàng hóa, giúp Việt Nam chuyển từ trạng thái nhập siêu lớn sang xuất siêu liên tục trong khoảng một thập kỷ gần đây (từ năm 2016 đến nay), với quy mô ngày càng mở rộng.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện duy trì ở mức hai chữ số (trên 10 tỷ USD) trong nhiều năm, góp phần cải thiện cán cân tài chính và nguồn cung ngoại tệ. Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) giải ngân từ năm 1993 đến nay đạt quy mô lớn, khoảng trên 70 tỷ USD. Kiều hối giai đoạn từ năm 1993 đến nay ước đạt trên 255 tỷ USD, trở thành nguồn bổ sung ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế.
Công tác điều hành tỷ giá VND/USD của Ngân hàng Nhà nước đã chuyển từ cơ chế điều chỉnh gián đoạn với biên độ lớn sang cơ chế điều hành linh hoạt, từng bước, thông qua tỷ giá trung tâm và các công cụ thị trường, nhằm hạn chế đầu cơ, tăng khả năng dự báo và phù hợp hơn với tín hiệu thị trường, đồng thời kết hợp với các nghiệp vụ thị trường mở và hoán đổi ngoại tệ khi cần thiết.
Bên cạnh các kết quả tích cực, về cán cân tổng thể cũng còn những hạn chế, thách thức cần quan tâm.
Biến động cán cân thanh toán và quy mô thặng dư còn hạn chế. Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, cán cân thanh toán của Việt Nam vẫn có những năm thâm hụt khá lớn, đặc biệt là năm 2015 và năm 2022; trong khi thặng dư năm 2023 còn ở mức thấp. Điều này cho thấy cán cân thanh toán vẫn chịu tác động đáng kể từ biến động chu kỳ kinh tế toàn cầu và dòng vốn quốc tế.
Dự trữ ngoại hối còn biến động và áp lực gia tăng theo quy mô thương mại. Dự trữ ngoại hối có xu hướng giảm trong một số năm (như 2015, 2022) và chưa thực sự ổn định; năm 2023 thấp hơn giai đoạn 2018-2021. Trong bối cảnh quy mô nhập khẩu tăng nhanh, giá trị chuẩn “ba tháng nhập khẩu” cũng gia tăng mạnh, từ 83,3 tỷ USD năm 2021 lên 90,0 tỷ USD năm 2022, trên 95 tỷ USD năm 2024 và gần 114 tỷ USD năm 2025.
Theo thông lệ quốc tế, nếu dự trữ ngoại hối thấp hơn ngưỡng ba tháng nhập khẩu hoặc thấp hơn dư nợ nước ngoài ngắn hạn, mức độ an toàn tài chính quốc gia sẽ bị suy giảm, đồng thời làm giảm dư địa điều hành tỷ giá và chính sách tiền tệ.
Cán cân vãng lai bao gồm các cấu phần: cán cân hàng hóa, cán cân dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai.
Nhìn tổng thể, cán cân vãng lai của Việt Nam ghi nhận nhiều kết quả tích cực trong giai đoạn gần đây. Vị thế cán cân vãng lai đã chuyển từ thâm hụt trong các năm trước 2015 sang cơ bản thặng dư trong nhiều năm kể từ năm 2016 đến nay (năm 2023 thặng dư 27.590 triệu USD và sơ bộ năm 2024 thặng dư 30.509 triệu USD), trừ năm 2021 thâm hụt (-8.150 triệu USD) và năm 2022 với mức thặng dư ít ỏi (1.404 triệu USD) do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, phản ánh sự cải thiện rõ nét về cân đối ngoại thương và các dòng thu nhập, chuyển giao từ nước ngoài...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Kinh tế Việt Nam & Thế giới 2025 - 2026 phát hành ngày 19/03/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/kinh-te-viet-nam-va-the-gioi-2025-2026.html




Sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng những lợi thế địa kinh tế vượt trội, Việt Nam đang nắm giữ chìa khóa vàng để bứt phá thành một cường quốc kinh tế biển. Tuy nhiên, hành trình vươn khơi của các ngành kinh tế hiện đang vấp phải những rào cản lớn về thể chế quản lý không gian biển...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy nhanh việc xây dựng bản đồ ranh giới đất rừng nhằm hỗ trợ nông sản xuất khẩu đáp ứng quy định EUDR. Đồng thời, các ngành hàng như cà phê, cao su cũng cần bản đồ hóa vùng trồng đến từng thửa đất thay vì chỉ dừng ở cơ sở dữ liệu, tạo nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc, đánh giá rủi ro và nâng cao năng lực quản lý vùng nguyên liệu...
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...