Phát biểu khai mạc Diễn đàn “Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số” diễn ra ngày 14/7/2026, GS.TS Lê Văn Lợi, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, khẳng định: "Đất nước ta đã bước vào một giai đoạn phát triển mới. Mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng hai con số không chỉ là chỉ tiêu định lượng đơn thuần về mặt quy mô, mà thực chất là một cuộc cách mạng về chất lượng thể chế, năng suất lao động, năng lực công nghệ và hiệu quả phân bổ nguồn lực quốc gia".
Theo GS.TS Lê Văn Lợi, việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và giữ vững các cân đối lớn trong những năm qua là vô cùng quan trọng, song đó mới chỉ là “điều kiện cần”. Năng lực tăng trưởng thực tế của toàn bộ nền kinh tế phải được quyết định ở cấp độ vi mô — tức là tại từng doanh nghiệp, địa phương, dự án đầu tư và từng thị trường cụ thể.
Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thẳng thắn chỉ ra: “Một nền kinh tế không thể tăng trưởng nhanh khi doanh nghiệp phải mất quá nhiều thời gian và chi phí để hoàn tất thủ tục; khi nguồn vốn chưa đến được với những dự án có năng suất cao; khi đất đai, dữ liệu, công nghệ, nhân lực chưa được đưa vào sử dụng hiệu quả”.
Phân tích sâu hơn về thực trạng phát triển của doanh nghiệp Việt Nam, TS Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới đã đưa ra một bức tranh đa chiều với nhiều trăn trở. Mặc dù số liệu thống kê cho thấy những điểm sáng nhất định, song sức khỏe chung của lực lượng doanh nghiệp nội địa vẫn đang đối mặt với những thách thức chưa từng có.
TS Phạm Anh Tuấn dẫn chứng mục tiêu chiến lược đến năm 2030 Việt Nam cần đạt 2 triệu doanh nghiệp hoạt động. Điều này đồng nghĩa trong 5 năm tới, mỗi năm nền kinh tế phải có thêm ít nhất 200.000 doanh nghiệp thực tế hoạt động. Tuy nhiên, nhìn lại dữ liệu lịch sử giai đoạn 2016 - 2025, chưa có năm nào số doanh nghiệp ròng tăng thêm vượt qua ngưỡng 100.000 doanh nghiệp/năm. Đây là một thách thức cực kỳ lớn về mặt số lượng.
Sâu sắc hơn, dữ liệu sức khỏe doanh nghiệp nội địa đang bộc lộ những chỉ số rất đáng băn khoăn. Khi quy mô vốn siêu nhỏ, trên 70% doanh nghiệp có mức vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng. Mức vốn trung bình này gần như không thay đổi trong suốt 10 năm qua.
Mặt khác, quy mô lao động hạn chế: 81,4% doanh nghiệp sử dụng dưới 10 lao động. Hiệu quả sinh lời cực thấp: Tỷ suất lợi nhuận bình quân chỉ đạt vỏn vẹn 2,2%, thấp hơn nhiều so với lãi suất huy động ngân hàng hiện tại. Tỷ lệ giải thể cao: Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 6 tháng đầu năm 2026 ước tính tăng kỷ lục 94,7% so với cùng kỳ.
Theo TS Phạm Anh Tuấn, với một lực lượng doanh nghiệp nội phần lớn là siêu nhỏ và nhỏ như vậy, khả năng tích lũy công nghệ, mở rộng thị trường và tham gia sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu là vô cùng khó khăn. Ông khái quát 4 nhóm điểm nghẽn cơ bản cản trở sự phát triển của doanh nghiệp hiện nay bao gồm: Thể chế với chi phí tuân thủ lớn và tính bất định cao; Khó khăn trong tiếp cận các nguồn lực cơ bản như vốn sạch, đất đai, công nghệ và dữ liệu; Điểm nghẽn thị trường với các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe; Năng lực đổi mới sáng tạo hạn chế do thiếu nguồn lực đầu tư dài hạn.
Đồng quan điểm về việc cần có các chính sách vi mô vượt trội, PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, nhấn mạnh rằng kinh tế Việt Nam khép lại nửa đầu năm 2026 với kết quả rất đáng khích lệ: GDP tăng trưởng đạt 8,18% — mức cao nhất trong 16 năm qua.
Tuy nhiên, không gian của các chính sách vĩ mô truyền thống như nới lỏng tiền tệ hay kích cầu tài khóa diện rộng đang hẹp lại để đảm bảo an toàn hệ thống. Do đó, động lực tăng trưởng tiếp theo buộc phải đến từ các thể chế đặc thù, mang tính kích hoạt và đột phá cao.
Chính sách vi mô đột phá, không phải là những giải pháp nhỏ lẻ hay sự hỗ trợ trực tiếp cho một vài doanh nghiệp. Đó là những cải cách có khả năng tác động trực tiếp vào các điểm nghẽn của hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra những thay đổi rõ ràng về chi phí, năng suất, khả năng tiếp cận nguồn lực và động lực đổi mới của hàng triệu chủ thể kinh tế.
Đó là một cơ chế khuyến khích kinh doanh mạnh mẽ hơn cho nghiên cứu, phát triển và đổi mới công nghệ; một hệ thống tín dụng dựa nhiều hơn vào dòng tiền, dữ liệu và triển vọng kinh doanh; một khu thương mại tự do được trao quyền đủ mạnh để cạnh tranh với các trung tâm trong khu vực; một thị trường dữ liệu minh bạch và thông suốt, an toàn; hay một cơ chế thử nghiệm có kiểm soát để những ý tưởng mới được triển khai sớm khi quy định mới chưa theo kịp thực tiễn.
Để các đột phá vi mô trở thành hiện thực, GS.TS Lê Văn Lợi kiến nghị ba yêu cầu cốt lõi:
Thứ nhất: Chuyển mạnh từ tư duy "quản lý" sang "kiến tạo phát triển", xem thể chế là bệ đỡ cho sáng tạo thay vì chỉ ngăn ngừa rủi ro.
Thứ hai: Chuyển từ chính sách hỗ trợ bình quân sang hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, tuyệt đối không "dàn hàng ngang" nguồn lực.
Thứ ba: Coi chất lượng thực thi và tốc độ triển khai chính sách là thước đo thành bại, bởi trong kỷ nguyên mới, thời gian chính là nguồn lực khan hiếm và sự chậm trễ thực thi chính là một dạng lãng phí lớn nhất của nền kinh tế.
Nhấn mạnh phát triển các khu thương mại tự do và khu kinh tế đóng vai trò là "chìa khóa" vi mô đột phá để khơi thông nguồn lực nền kinh tế, ông Mạc Vũ Hưng, Giám đốc dự án Công ty tư vấn BCG đề xuất 4 trụ cột chính sách để áp dụng cho các khu kinh tế, khu thương mại tự do tại Việt Nam.
Đó là, mô hình quản trị linh hoạt, thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho các Ban quản lý khu kinh tế kết hợp mô hình hợp tác công - tư để tối ưu hóa tốc độ ra quyết định. Đồng thời tạo môi trường kinh doanh thực sự thông thoáng, tối giản thủ tục hải quan và thiết lập các "sandbox" (khung thể chế thử nghiệm) cho các ngành công nghiệp tiên phong. Một không gian tài chính vượt trội cho phép dòng vốn lưu chuyển linh hoạt, tự do và áp dụng các cơ chế thanh toán xuyên biên giới hiện đại. Xây dựng bệ đỡ bằng chính sách ưu đãi thuế thu nhập cá nhân đột phá và thủ tục thị thực (visa) thuận lợi.
Ông Mạc Vũ Hưng đặc biệt nhấn mạnh: "Việt Nam không thể chỉ tiếp tục cạnh tranh bằng ưu đãi thuế suất danh nghĩa hay chi phí lao động giá rẻ. Chúng ta cần giải quyết triệt để các điểm nghẽn thực tế về thủ tục đầu tư, giải phóng quỹ đất và nâng cao khả năng cung ứng nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ cốt lõi như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và logistics đa phương thức”.
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Với khoảng 44.000 ha cà phê Arabica, Sơn La đang hướng tới phát triển ngành hàng theo hướng sinh thái, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị xuất khẩu. Trước thách thức của biến đổi khí hậu và các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, tỉnh xác định đẩy mạnh canh tác bền vững, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu đạt 100.000 tấn cà phê nhân vào năm 2030...
Vòng bán kết Cuộc thi Tài năng trẻ Logistics Việt Nam 2026 với sự góp mặt của 54 đội từ các trường đại học, cao đẳng trên cả nước, hứa hẹn sẽ mang đến những màn tranh tài hấp dẫn, khẳng định sức lan tỏa của sân chơi học thuật hàng đầu ngành logistics...
Doanh nghiệp không chỉ cần thêm chính sách, mà còn cần chính sách ổn định, quy định thông suốt, thời hạn giải quyết thủ tục minh bạch và cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng. Quan trọng nhất là một môi trường kinh doanh có thể dự báo được, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư, phát triển dài hạn...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.