
“Bức tranh” xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ - thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam - trong thời gian tới sẽ như thế nào?
Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Duy Khiên, Tham tán thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ.
“Bức tranh” xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ khi chúng ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đã có Quy chế Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) sẽ như thế nào, thưa ông?
Đó là bức tranh rất sáng sủa. Bộ Thương mại đã giao chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam năm 2007 là 20%.
Tôi nghĩ rằng, chỉ tiêu này đối với thị trường Hoa Kỳ là dễ dàng có thể đạt được. Ít nhất tôi đánh giá phải đạt được 30% trở lên bởi tăng trưởng bao nhiêu phụ thuộc vào vấn đề cung - cầu, khả năng cạnh tranh, quan hệ giữa 2 nước như thế nào.
Ông có thể cho biết cụ thể vấn đề cung – cầu trong “bức tranh” xuất khẩu sẽ tiến triển như thế nào?
Nói về cung, tôi tin là khả năng “cung” hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ tăng rất nhanh bởi thứ nhất, vào WTO là động lực, sức ép để các doanh nghiệp Việt Nam vươn lên, đổi mới, tạo ra nhiều hàng xuất khẩu hơn.
Bên cạnh đó, vào WTO sẽ thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam mạnh hơn, trong đó có sản xuất hàng xuất khẩu. Thực tế là nhiều nhà đầu tư nước ngoài, không chỉ riêng các nhà đầu tư Hoa Kỳ, vào Việt Nam đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu cũng lấy Hoa Kỳ làm đầu ra cho sản phẩm của họ.
Thứ hai là nguồn cung của Việt Nam. Bất cứ nhà đầu tư nào khi quyết định đầu tư vào Việt Nam đều nhìn vào bức tranh kinh tế chung. Mà bức tranh kinh tế chung của Việt Nam đang rất sáng sủa. Tôi tin rằng với đà này, nhịp độ tăng trưởng 7,5 – 8%/ năm trong vòng 3 – 5 năm tới có thể vẫn duy trì được. Vì thế, khả năng cung của Việt Nam sẽ tăng cao.
Còn về “cầu”, Bộ Thương mại đã giao cho chúng tôi nhiệm vụ nghiên cứu về nhu cầu nhập khẩu của Hoa Kỳ. Một điều dễ nhận thấy là tất cả những mặt hàng nhập khẩu của Hoa Kỳ đều rất lớn, đạt con số hàng tỷ USD.
Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này còn quá nhỏ so với tổng kim ngạch nhập khẩu của họ. Năm 2005, kim ngạch nhập khẩu của Hoa Kỳ là 1.700 tỷ USD, năm 2006 khoảng 1.800 tỷ USD.
Những mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này thì họ đều nhập khẩu từ nhiều nước khác nữa với con số hàng tỷ USD, ví dụ như thuỷ sản chúng ta xuất khẩu được 500 triệu USD thì họ nhập khẩu tới 12 tỷ USD; hàng điện tử họ nhập 300 tỷ USD, dệt may 100 tỷ USD, giày dép 20 tỷ USD, đồ gỗ 25 tỷ USD, xe đạp hơn 1 tỷ USD, đồ chơi cũng từ 3 – 4 tỷ USD...
Điều đó chứng tỏ rằng mặt hàng nào chúng ta có thể xuất được thì họ cũng đều nhập được. Vấn đề là ở chỗ chúng ta có xuất được hay không hay cụ thể là chúng ta có cạnh tranh được hay không.
Vậy còn vấn đề cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ trong thời gian tới?
Nhu cầu nhập khẩu hàng hoá của Hoa Kỳ rất lớn nên các nước đều đổ xô đến thị trường này. Trong khi đó, chúng ta lại đi sau, mới thâm nhập vào thị trường này (thực chất mới chỉ phát triển từ năm 2001 đến nay). Vậy chúng ta phải cạnh tranh như thế nào trong “chợ lớn” nhưng “đông người” như vậy?
Thứ nhất, chúng ta chỉ có thể chen vào “ngách”, chúng ta không thể ở tại Việt Nam mà biết được ngách đó là cái gì, vì vậy phải đi nghiên cứu xem ngách đó là cái gì để có thể chen vào được, hoặc là chúng ta dựa vào các đối tác Hoa Kỳ để họ chỉ cho chúng ta “ngách” đó là cái gì để chúng ta chen.
Thứ hai là chen trực diện, tức là chúng ta chiếm chỗ của họ bằng cách sản xuất những mặt hàng chất lượng cao hơn nhưng giá thành rẻ hơn. Vì vậy, vấn đề ở đây là chúng ta cần phải xác định xem mặt hàng nào chen vào “ngách”, mặt hàng nào chen trực diện. Thực tế trong mấy năm qua, có những mặt hàng chúng ta đã chen trực diện được.
Ví dụ như nhu cầu nhập khẩu giày dép của Hoa Kỳ mỗi năm chỉ tăng 5- 6%, nhưng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của chúng ta đã tăng 40 – 50%, tức là chúng ta đã “hất” được một số đối thủ khác ra ngoài, chen được vào chỗ của họ, chẳng hạn như Indonesia, Italia, Brazil, Tây Ban Nha đã giảm rất nhiều; nhu cầu nhập khẩu dệt may của Hoa Kỳ chỉ tăng từ 5 – 7% nhưng chúng ta đã tăng 25 – 30%, có nghĩa là chúng ta đã “ăn” vào được thị phần của các thị trường khác.
Thế nhưng, khi chen trực diện, chúng ta sẽ phải tính tới hàng hoá của Trung Quốc xuất khẩu vào Hoa Kỳ?
Đúng vậy, Trung Quốc luôn luôn là một yếu tố rất quan trọng trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, đặc biệt là trong xuất khẩu. Hầu hết những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay đều là những mặt hàng mà Trung Quốc có thị phần xuất khẩu rất lớn. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc chiếm tới hơn 20% thị phần nhập khẩu của Hoa Kỳ, giày dép chiếm hơn 70%, đồ gỗ chiếm tới 60 – 70%.
Nói như vậy thì hàng hoá Việt Nam có thể cạnh tranh trực diện với hàng hoá Trung Quốc được không? Câu trả lời là có hàng hoá chúng ta có thể cạnh tranh trực diện, nhưng có hàng hoá chúng ta phải tránh đi.
Ví dụ như hàng dệt may, giày dép, Trung Quốc có đủ máy móc, nguyên phụ liệu, thiết kế mẫu mã, quy mô sản xuất rất lớn nên họ có thể bán giá rẻ. Nhưng quy mô của các doanh nghiệp Việt Nam nhỏ, nguyên phụ liệu nhập, máy móc nhập tạo giá thành đầu vào cao nên chúng ta rất khó có thể bán giá rẻ.
Vậy thì, đối với những ngành hàng này, chúng ta nên đi vào những mặt hàng có trị giá gia tăng cao. Điểm yếu của chúng ta là nguyên liệu đầu vào phải nhập nhiều, điểm mạnh của chúng ta là lao động khéo tay, nếu được đào tạo và quản lý tốt thì họ có thể sản xuất được những sản phẩm với trình độ công nghệ, kỹ thuật cao và năng suất cao. Có như vậy thì mới chen được.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Thương mại Việt Nam – Đài Loan trong 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự bứt phá kỷ lục với sự dẫn dắt tuyệt đối từ nhóm hàng công nghệ cao. Tuy nhiên, để bảo vệ thành quả tăng trưởng và khai thác hiệu quả dư địa thị trường Đài Loan trong giai đoạn nửa cuối năm 2026 cũng như các năm tiếp theo, rất cần một sự chuẩn bị kỹ càng về chiến lược phát triển thị trường, xúc tiến thương mại phù hợp...
Việc Việt Nam và EFTA hoàn tất đàm phán FTA đã mở ra cơ hội mới cho ngành thủy sản trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động và các thị trường ngày càng siết chặt tiêu chuẩn. Bên cạnh lợi thế từ cắt giảm thuế quan, việc EU hạn chế khai thác thủy sản cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng xuất khẩu sang các nước EFTA...
Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu phân bón của Việt Nam tăng mạnh cả về sản lượng và giá trị. Đà tăng trưởng được thúc đẩy bởi sự gián đoạn nguồn cung phân bón toàn cầu do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông và các hạn chế xuất khẩu từ một số quốc gia sản xuất lớn...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.