Thưa ông, giữa hàng triệu sản phẩm đang lưu thông từ chợ truyền thống đến siêu thị, người tiêu dùng vẫn mơ hồ về nguồn gốc và độ an toàn. Vậy đâu là công cụ then chốt để giải bài toán minh bạch hóa thông tin sản xuất và lấy lại niềm tin cho người tiêu dùng?
Câu trả lời nằm ở công nghệ truy xuất nguồn gốc. Hệ thống truy xuất không chỉ là công cụ minh bạch hóa hành trình của sản phẩm, mà còn là cầu nối của niềm tin giữa người tiêu dùng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, hướng tới một thị trường lành mạnh, bền vững và đáng tin cậy.
Truy xuất nguồn gốc hiện không chỉ là xu hướng mà đang trở thành yêu cầu bắt buộc của thị trường hiện đại, minh bạch để bảo vệ người tiêu dùng và khẳng định uy tín hàng Việt Nam.
Trong thời gian qua, Bộ Công Thương đã phối hợp với các nhà khoa học, doanh nghiệp công nghệ để tìm kiếm các giải pháp về truy xuất nguồn gốc hiệu quả nhất, đưa ra câu trả lời chính xác về nguồn gốc hàng hóa. Mục đích chính của truy xuất nguồn gốc là xác định quá trình hình thành sản phẩm theo nguyên tắc “một bước trước, một bước sau”, bao gồm từ nguyên liệu (vùng trồng/vùng chăn nuôi) đến sản xuất, kho vận, logistics, siêu thị và người tiêu dùng.
Nói cách khác, nếu chúng ta xây dựng một hệ thống quốc gia về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, chúng ta có thể biết rõ cơ sở sản xuất nào đã sản xuất bao nhiêu sản phẩm, sản phẩm đó được chuyển đến đâu, ai là người vận chuyển sản phẩm đó, sản phẩm đang có mặt tại siêu thị nào... Từ đó, chúng ta có thể đối chiếu và xác định xem sản phẩm có phải là hàng giả hay không.
Các doanh nghiệp đang áp dụng nhiều mô hình giải pháp như sử dụng mã tem QR Code hoặc chip RFID. Vậy đến nay, công tác truy xuất nguồn gốc trong quản lý lưu thông hàng hóa, chuỗi cung ứng của chúng ta đang ở đâu, thưa ông?
Mặc dù Cổng truy xuất nguồn gốc quốc gia đã được thiết lập (từ Đề án 100), nhưng việc áp dụng Tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc toàn cầu (GS1) hiện vẫn chưa đồng bộ.
Vấn đề lớn nhất hiện nay là mỗi doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn khác nhau, khiến chuỗi cung ứng có “quá nhiều ngôn ngữ” không hiểu được nhau. Điều này gây khó khăn cho việc chuyển đổi, nạp dữ liệu vào hệ thống quốc gia và đảm bảo tính duy nhất của định danh sản phẩm.
Bên cạnh đó, mức độ số hóa trong thị trường nội địa rất rời rạc. Các doanh nghiệp lớn buộc phải thực hiện truy xuất rất bài bản do áp lực từ các thị trường xuất khẩu khó tính (Mỹ, châu Âu). Ngược lại, đối với thị trường nội địa, chính sách hiện tại chỉ mang tính khuyến khích, dẫn đến nhiều doanh nghiệp chưa đặt vấn đề này lên hàng đầu. Hậu quả là làm tăng nguy cơ làm giả nguồn gốc xuất xứ bằng cách sao chép mã truy xuất, nhất là mã QR.
Hơn nữa, các hệ thống truy xuất nguồn gốc được xây dựng riêng lẻ tại nhiều cấp hoặc bởi các công ty công nghệ. Mỗi một đơn vị lại có cấu trúc dữ liệu khác nhau, đặc biệt “không nói chuyện” được với nhau, giống như “ốc đảo số”. Thậm chí, nhiều hệ thống không kết nối với Cổng truy xuất quốc gia, dẫn đến việc dữ liệu không thông suốt, không đồng nhất, làm giảm hiệu quả quản lý chung.
Một thực tế đáng lo ngại, đa số các doanh nghiệp đang sử dụng mã QR tĩnh để truy xuất. Phương pháp này bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng, như: thiếu minh bạch quy trình: mã QR tĩnh chỉ dẫn người tiêu dùng đến một trang web giới thiệu sản phẩm, không thể hiện được quy trình sản xuất chi tiết (tọa độ địa lý, ngày giờ, ai chịu trách nhiệm...); dễ bị sao chép, làm giả: QR tĩnh rất dễ bị sao chép, làm giả, khiến sản phẩm bị “đội lốt” và làm mất ý nghĩa của công tác truy xuất nguồn gốc.
Để khắc phục những bất cập trên, theo ông, cần làm gì để hệ thống truy xuất soi rõ được “từng đường đi, nước bước” của sản phẩm?
Chúng tôi đã đề xuất với doanh nghiệp rằng hãy cố gắng lựa chọn dùng chip nếu có điều kiện. Còn trong lúc chưa có điều kiện, chúng ta cố gắng sử dụng mã QR biến đổi để bảo mật và chống làm giả vật mang dữ liệu (như tem, nhãn, thẻ có chứa mã truy xuất). Bởi nếu không giải quyết được vấn đề này thì sẽ bị “fake truy xuất nguồn gốc”.
Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa: mặc dù Việt Nam đã có đầy đủ hạ tầng, chuẩn quốc gia và các công nghệ nền tảng (GS1, Blockchain, IoT, AI), nhưng hệ thống cơ sở dữ liệu bị phân mảnh, thiếu sự minh bạch và liên thông giữa các bộ, ngành. Vấn đề bảo mật và chống làm giả vật mang dữ liệu chưa được giải quyết triệt để.
Điều này dẫn đến việc thiếu dữ liệu tổng hợp, gây khó khăn cho việc quản lý và xử lý các vấn đề phát sinh. Do đó, rất cần có sự hợp tác toàn diện để xây dựng một chương trình tổng thể và mang tầm vóc quốc gia về truy xuất nguồn gốc. Mục tiêu là để truy xuất nguồn gốc thực sự trở thành “hạ tầng số chống hàng giả và minh bạch chuỗi cung ứng”, chứ không chỉ là một vài mã QR trên bao bì.
Vậy, đâu là yếu tố then chốt để hình thành một hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ, hiệu quả trên phạm vi toàn quốc, thưa ông?
Yếu tố then chốt là vai trò của cơ quan quản lý nhà nước. Mặc dù đã có Thông tư 02/2024/TT-BKHCN quy định về quản lý truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, nhưng việc để các doanh nghiệp tự làm truy xuất nguồn gốc vẫn dẫn đến bất cập. Đã đến lúc cơ quan quản lý nhà nước phải đứng ra đảm nhận công tác truy xuất, với mỗi bộ ngành là đầu mối theo lĩnh vực trách nhiệm được phân công.
Nền tảng dữ liệu quốc gia không nên cho phép doanh nghiệp tự đẩy dữ liệu về, mà phải thông qua bộ lọc là các bộ ngành. Các bộ, ngành này sẽ sử dụng các công nghệ như AI và Big Data để lọc và chuyển tiếp dữ liệu về Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Điều này nhằm giải quyết vướng mắc hiện tại và thống nhất tiêu chuẩn cơ sở.
Các bộ ngành đang xây dựng Khung kiến trúc số và Khung cơ sở dữ liệu. Các nền tảng truy xuất của từng bộ, ngành có thể ứng dụng Blockchain hoặc các công nghệ phù hợp khác, nhưng phải dựa trên một tiêu chuẩn chung. Tiêu chuẩn chung này giúp dễ dàng liên thông giữa các hệ thống và tạo tiếng nói chung.
Theo ông, để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng truy xuất nguồn gốc, Nhà nước cần có chính sách cụ thể như thế nào?
Bộ Công Thương dự kiến hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ bằng hai biện pháp: (i) hỗ trợ chuyển đổi số liệu từ hệ thống truy xuất hiện có của doanh nghiệp vào hệ thống của Bộ Công Thương mà không cần làm lại từ đầu; (ii) nếu doanh nghiệp có nhu cầu, Bộ sẽ hỗ trợ kết nối hệ thống truy xuất với hệ thống xuất hóa đơn, kê khai hóa đơn và nộp thuế.
Hệ thống liên thông của Bộ sẽ tự động xuất hóa đơn cho từng khâu bán hàng. Hóa đơn kèm theo quy trình truy xuất (ví dụ: công ty A bán sang công ty B) sẽ được liên thông với Tổng cục Thuế. Điều này giúp đơn giản hóa việc quyết toán và nộp thuế. Đồng thời, hệ thống liên thông cũng có thể kết nối với ngân hàng. Ví dụ, với lô hàng được ngân hàng bảo lãnh, khi bán hàng xong, tiền sẽ được chuyển về ngân hàng để đối chứng. Điều này giúp ngân hàng yên tâm rằng hàng hóa đang được bán, giúp doanh nghiệp không rơi vào tình trạng bị xác định là tín dụng xấu.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm
Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Có những vùng đất càng đi chậm càng thấy nhiều điều đáng giá. Một mái thành rêu phong ở Huế, dòng nước trong veo dưới chân Trường Sơn, hang động được gìn giữ qua triệu năm hay nếp nhà nép bên sườn núi đều có thể mở ra sinh kế mới. Nhưng giá trị không nằm ở việc đón thật đông người hay dựng thêm thật nhiều dịch vụ. Hành trình qua Huế, Sơn Đoòng và những bản làng phía Tây gợi một cách làm khác: để di sản bước vào đời sống hôm nay mà vẻ đẹp, ký ức và phần dành cho mai sau vẫn vẹn nguyên.
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.