Tại Tọa đàm: "Kinh tế tuần hoàn và khu công nghiệp sinh thái" do Ban quản lý các Khu chế xuất, Khu Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh, Hiệp hội các doanh nghiệp Khu công nghiệp Thành phố (HBA) và Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ TP. Hồ Chí Minh (HASI) phối hợp tổ chức vào đầu tháng 7/2026 tại TP. Hồ Chí Minh, TS Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ Tái chế, Hiệp hội Tái chế Việt Nam, dẫn ra hai câu chuyện thực tế đáng chú ý từ công việc tư vấn doanh nghiệp.
EPR LÀ NGHĨA VỤ PHÁP LÝ, KHÔNG PHẢI CƠ CHẾ TỰ NGUYỆN
Câu chuyện thứ nhất là về "Silent Rating" - hình thức đánh giá độc lập, âm thầm mà các tổ chức quốc tế thực hiện với doanh nghiệp sản xuất. Theo đó, doanh nghiệp không biết mình đang được đánh giá, nhưng các nhà mua hàng quốc tế có thể mua những báo cáo này để quyết định lựa chọn nhà cung cấp.
"Tôi từng có một khách hàng bất ngờ nhận được đơn hàng từ Mỹ dù chưa triển khai bất kỳ hoạt động marketing nào tại thị trường này", TS Hà chia sẻ.
Câu chuyện thứ hai trực tiếp hơn: một doanh nghiệp trong Khu chế xuất Tân Thuận nhận được thông báo từ khách hàng châu Âu và họ cho biết nếu không có lộ trình chuyển đổi và phát triển bền vững cụ thể, phía châu Âu sẽ ngừng đặt hàng từ năm 2028. Đơn hàng từ EU chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ về sản lượng nhưng lại chiếm phần lớn giá trị, và nguy cơ mất thị trường vì vậy là hoàn toàn hiện hữu.
Từ hai câu chuyện trên, TS Hà nhấn mạnh: "Doanh nghiệp phải chủ động xây dựng nguồn lực - nhân lực, trí lực, vật lực, và cuối cùng mới là tài lực. Không thể chờ đến khi khách hàng yêu cầu hoặc pháp luật thay đổi mới bắt đầu hành động".
Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) theo Nghị định 110/2026/NĐ-CP là một trong những thay đổi pháp lý quan trọng nhất về môi trường mà doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam phải đối mặt hiện nay. EPR là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, và doanh nghiệp cần chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện thay vì chờ đến khi bị kiểm tra hoặc xử phạt.
Điểm đáng chú ý, theo TS Hà là chi phí tuân thủ EPR không cố định do phụ thuộc trực tiếp vào cách doanh nghiệp thiết kế sản phẩm và bao bì. Nếu áp dụng thiết kế xanh, sử dụng vật liệu và bao bì thân thiện với tái chế, doanh nghiệp có thể giảm đáng kể mức phí tái chế (Fs) phải đóng. Ngược lại, nếu tiếp tục sử dụng bao bì khó tái chế, chi phí tuân thủ sẽ cao hơn và doanh nghiệp không tạo ra giá trị gì thêm từ khoản chi phí đó.
Vì vậy, EPR không chỉ là bài toán tuân thủ mà còn là cơ hội để doanh nghiệp tối ưu chi phí ngay từ khâu thiết kế sản phẩm. Nhiều khách hàng và thị trường xuất khẩu ngày càng ưu tiên các sản phẩm đáp ứng tiêu chí môi trường, nên việc thực hiện EPR đúng cách cũng đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh thương mại.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần nhận thức rõ: thực hiện EPR không thể làm trong một sớm một chiều. Lộ trình chuyển đổi cần bắt đầu từ khâu thiết kế sản phẩm, từ việc lựa chọn nguyên liệu, không phải chỉ xử lý ở khâu cuối khi quy định hoặc thị trường phát sinh yêu cầu.
KHOẢNG TRỐNG PHÁP LÝ VÀ ĐIỂM NGHẼN CẦN THÁO GỠ
Từ góc độ nhà quản lý, ông Trần Thanh Tùng, Trưởng phòng Quản lý môi trường, Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HEPZA), chỉ ra rằng một trong những rào cản kỹ thuật hiện nay là việc tái sử dụng nước sau xử lý tại các trạm xử lý nước thải tập trung trong khu công nghiệp vẫn chưa có cơ chế pháp lý rõ ràng. Nhiều khu công nghiệp có đủ năng lực kỹ thuật và nhu cầu thực tế để tuần hoàn nước, nhưng không thể triển khai vì thiếu hành lang pháp lý tương ứng.
Có cùng băn khoăn, ông Võ Sơn Điền, Chủ tịch HASI, cho rằng đây là khoảng trống pháp lý đang cản trở việc triển khai cộng sinh công nghiệp trong thực tế. Về mặt kỹ thuật, mô hình cộng sinh hoàn toàn khả thi, chất thải của doanh nghiệp này trở thành nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp đã có báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) riêng, và bản thân khu công nghiệp cũng có ĐTM của mình.
"Khi muốn triển khai cộng sinh, việc thay đổi dòng nguyên liệu và chất thải giữa các doanh nghiệp lại chưa có hành lang pháp lý tương ứng, tạo ra khoảng trống giữa yêu cầu kỹ thuật và quy định hiện hành, vấn đề mà ngay cả Ngân hàng Thế giới cũng đang gặp khó khi tư vấn triển khai", ông Điền nêu thực tế.
Nhận định minh bạch dữ liệu là nút thắt quan trọng nhất hiện nay, PGS.TS Lê Thị Kim Oanh, Trưởng khoa Môi trường, Trường Đại học Văn Lang, cho biết nhiều doanh nghiệp vẫn e ngại công khai thông tin về chất thải hoặc phụ phẩm vì còn vướng quy định pháp lý. Có những loại chất thải hoàn toàn có thể tái sử dụng hoặc bán làm nguyên liệu cho doanh nghiệp khác, nhưng nếu cơ chế chưa rõ ràng thì doanh nghiệp cũng không dám công khai. Đây chính là điểm nghẽn mang tính vòng tròn, đang gây cản trở quy trình chuyển đổi xanh của các doanh nghiệp sản xuất trong khu công nghiệp hiện nay.
"Doanh nghiệp không công khai dữ liệu vì e ngại pháp lý, nhưng thiếu dữ liệu thì không thể hình thành mô hình cộng sinh, không hình thành được cộng sinh thì khu công nghiệp sinh thái chỉ còn là khái niệm trên giấy", PGS.TS Oanh cảnh báo.
Giải đáp băn khoăn của doanh nghiệp, bà Đỗ Thị Diễm Thúy, Phó Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, cho biết kinh tế tuần hoàn đã được tích hợp vào chiến lược phát triển và quy hoạch của thành phố. Trong năm 2026, TP. Hồ Chí Minh sẽ ban hành Kế hoạch hành động về kinh tế tuần hoàn với 5 mục tiêu, 6 chương trình hành động và 29 nhiệm vụ cụ thể, có sự tham gia của nhiều ngành từ sản xuất, tiêu dùng đến quản lý tài nguyên và chất thải.
Riêng với các khu công nghiệp và khu chế xuất, kế hoạch đặt mục tiêu đến năm 2035 có ít nhất 20% doanh nghiệp áp dụng các giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn và giảm phát thải.
Về vướng mắc pháp lý liên quan đến cộng sinh công nghiệp mà ông Võ Sơn Điền nêu, bà Thúy cho biết thành phố đang nghiên cứu ban hành chính sách ưu đãi cho hoạt động tái chế và xử lý chất thải, đồng thời áp dụng cơ chế đặc thù của TP. Hồ Chí Minh theo Luật Đô thị đặc biệt để thí điểm các mô hình mới về tái chế, giảm rác thải nhựa và sản xuất tuần hoàn, làm cơ sở hoàn thiện chính sách trong thời gian tới.
KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI: HÀNH TRÌNH DÀI CẦN NGUỒN LỰC VÀ TÀI CHÍNH
Nhấn mạnh việc chuyển đổi sang khu công nghiệp sinh thái đòi hỏi chủ đầu tư hạ tầng phải thay đổi tư duy, từ mô hình "cho thuê đất" sang "cung cấp dịch vụ sinh thái", ông Tùng cũng lưu ý: "Cần xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ cho toàn khu công nghiệp, qua đó mới nắm rõ hiện trạng từng doanh nghiệp về nhu cầu nguyên liệu, nước, năng lượng và lượng chất thải phát sinh, để từ đó đóng vai trò cầu nối, thúc đẩy cộng sinh công nghiệp trong chính khu vực của mình”.
Về nguồn lực tài chính cho việc thúc đẩy khu công nghiệp chuyển đổi sang mô hình mới, ông Nguyễn Hà Lam, Phó Trưởng phòng Kế hoạch và Nghiên cứu phát triển, Công ty Đầu tư Tài chính nhà nước TP. Hồ Chí Minh (HFIC), cho biết TP. Hồ Chí Minh đang triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất vay tối đa 7 năm với hạn mức lên đến 200 tỷ đồng/dự án theo Nghị quyết 09/2023 của HĐND Thành phố. Thành phố cũng đang xem xét bổ sung các dự án đầu tư phục vụ chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn vào danh mục được hỗ trợ, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thông tin về chính sách hỗ trợ tài chính cho quá trình chuyển đổi sản xuất xanh, bền vững, ông Lam cho biết thành phố hiện có chính sách hỗ trợ lãi suất vay tối đa 7 năm với mức vay tối đa 200 tỷ đồng/dự án, gần như toàn bộ lãi suất được hỗ trợ cho doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, Nghị quyết 09 hiện chưa bao gồm cụ thể các lĩnh vực chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn. HĐND Thành phố đang xem xét bổ sung các lĩnh vực này, trong đó có các dự án đầu tư máy móc thiết bị và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp nhằm thực hiện chuyển đổi xanh đặc biệt dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nếu được thông qua trong tháng 8/2026, doanh nghiệp có thể tiếp cận HFIC để tham gia nguồn vốn ưu đãi này tại HFIC nhằm phục vụ quá trình chuyển đổi và đạt các chứng chỉ tham gia kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi xanh của thành phố.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu toàn hệ thống chính trị tập trung cao độ, quyết liệt triển khai các giải pháp chống khai thác IUU, thực hiện nghiêm “5 không”, quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC) trong năm 2026, gắn với phát triển ngành thủy sản bền vững...
Chuỗi triển lãm quốc tế về công nghiệp chế tạo, đóng gói và bán dẫn tại Hà Nội đặt trọng tâm vào việc thúc đẩy nội địa hóa và kết nối doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.