
Trong một “biển” các sản phẩm smartphone ở cả các phân khúc từ cao cấp, trung cấp đến bình dân đang cạnh tranh khá khốc liệt, những nhà sản xuất, kinh doanh điện thoại thương hiệu Việt phải vất vả chen chân và có chiến lược, hướng đi phù hợp để chiếm được trái tim người dùng, tìm chỗ đứng trên thị trường.
Trong những ngày gần đây, thị trường điện thoại thương hiệu Việt được hâm nóng trở lại với sự xuất hiện của 2 dòng sản phẩm smatphone 4G/LTE ở 2 phân khúc: một cận cao cấp Bphone 2017 của Bkav và một bình dân Vivas Lotus S3 LTE của VNPT.
Mặc dù đích đối tượng hướng đến của 2 dòng sản phẩm này là khác nhau nhưng có một điểm chung: đây đều là những smartphone “Made in Vietnam”, là tâm huyết, thành quả quá trình nghiên cứu và phát triển của các kỹ sư Việt Nam, để từng bước khẳng định vị thế công nghệ cũng như tạo một ngành sản xuất smartphone do người Việt làm chủ. Trong khi Bphone 2017 là thế hệ smartphone thứ 2 của Bkav thì Vivas Lotus S3 LTE là sản phẩm thứ 5 thuộc dòng smartphone của VNPT.
Bên cạnh 2 dòng sản phẩm smartphone “Made in Vietnam” mới ra lò, trước đó, thị trường cũng đã chứng kiến một số sản phẩm của một số hãng điện thoại mang thương hiệu Việt như Mobiistar, Masstel... Và một doanh nghiệp chuyên dòng TV màn hình CRT giá rẻ ở Việt Nam cũng nhảy sang thị trường smartphone giá rẻ đang được đánh giá là khá khắc nghiệt và sắp ra mắt sản phẩm trên thị trường.
Nhìn lại thị trường, đến nay một số hãng điện thoại Việt Nam hoặc rất èo uột, hoặc đang dần rơi rụng. Một chủ siêu thị điện thoại có tiếng trên thị trường thẳng thắn cho rằng, mảng điện thoại thương hiệu Việt đã yếu đi nhiều.
Thực tế, bức tranh thị trường điện thoại thương hiệu Việt vẫn có những điểm sáng nhất định khi có một số thương hiệu còn trụ lại, xuất hiện trên kệ của các shop kinh doanh điện thoại và gặt hái những thành công nhất định khi nhắm vào phân khúc bình dân, giá rẻ.
Tất nhiên, giá rẻ thì chỉ có thể tính bằng số lượng máy còn doanh thu thì lại là một câu chuyện khác. Theo số liệu thống kê của GfK tháng 5/2017 thì Mobiistar đã đứng thứ 4 toàn thị trường, chiếm doanh số 2,96% và đứng thứ 8 về doanh thu (0,86%).
Mobiistar cũng là một trong những hãng điện thoại bán chạy nhất 6 tháng đầu năm. Trong số thương hiệu điện thoại được GfK xếp hạng, cả 3 hãng điện thoại Mobiistar, F-Mobile, Masstel đều được xứng tên nhưng doanh thu lại kém hơn các đối thủ có doanh số bán thấp hơn.
Nhìn những diễn biến trên thị trường điện thoại hiện nay có thể thấy, các hãng điện thoại thương hiệu Việt sẽ phải chật vật cạnh tranh với các thương hiệu cả trong và ngoài nước để tìm chỗ đứng cho mình.
Thực tế, một số hãng điện thoại ở thị trường Việt Nam đã thành công vì hiểu tâm lý người dùng Việt, đặt chất lượng và giá cả lên hàng đầu. Người dùng Việt không khó, chỉ cần các hãng smartphone Việt hiểu được người dùng đang cần gì và đáp ứng, một số chuyên gia chia sẻ.
Một số ý kiến cho rằng, phân khúc smartphone giá rẻ và trung cấp mới chính là phân khúc giúp các hãng điện thoại, đặc biệt là điện thoại thương hiệu Việt dễ dàng giành được thị phần nhất thay vì tập trung vào các smartphone cao cấp rất “khó có cửa” để cạnh tranh với những ông lớn đã có tên tuổi từ lâu.
Theo ông Nguyễn Trung Kiên, Giám đốc Ban quản lý phát triển sản phẩm công nghệ VNPT Technology, smartphone là một thứ rất khó làm mới, nên phải chắt lọc từng thứ một và người dùng cảm nhận từng cái.
Với các smartphone 4G có giá hợp lý, kiểu dáng sang trọng và các ứng dụng trong đó nếu tốt sẽ hút người dùng.
Còn ông Trần Kinh Doanh, Tổng giám đốc Thế giới Di động, cho rằng, nếu các nhà sản xuất Việt Nam tâm huyết với sản phẩm mình làm ra, có chiến lược phân phối tiếp thị sản phẩm đúng đắn thì có thể giành được thị phần.
“Muốn tạo niềm tin cho thị trường, chúng ta phải xây dựng dần dần, chứ không thể bắt người dùng phải tin vào sản phẩm Việt. Với niềm tin chưa được xây dựng, nếu làm điện thoại giá cao với thương hiệu Việt là rất khó. Khi đã chiếm lĩnh được niềm tin của khách hàng qua chính sách bảo hành, qua các phần mềm... thì họ sẽ ủng hộ sản phẩm tiếp theo của mình. Tuy nhiên, điều này cần phải có thời gian”, ông Nguyễn Trung Kiên, Giám đốc Ban quản lý phát triển sản phẩm công nghệ VNPT Technology, nhận định.
Năm 2018, khi bắt tay xây dựng CXMT, ông Zhu Yiming được cho là đã cam kết sẽ không nhận lương cho đến khi công ty có lãi. Và phải đến năm ngoái, CXMT mới lần đầu tiên ghi nhận lợi nhuận...
Bộ Công Thương được giao chủ trì xây dựng phương án bảo đảm nguồn cung điện phục vụ các trung tâm dữ liệu và hạ tầng tính toán hiệu năng cao, có dự báo nhu cầu đến năm 2030. Nhiệm vụ phải được hoàn thành trước ngày 30/10...
Thủ tục bao gồm cấp giấy phép xây dựng nhà máy điện hạt nhân, vận hành nhà máy điện hạt nhân...
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.
Mức hỗ trợ từ ngân sách cho các đơn vị, cá nhân thực hiện nhiệm vụ công nghệ chiến lược được đề xuất xác định trên 5 cơ sở: mục tiêu làm chủ công nghệ, giai đoạn phát triển công nghệ, mức độ rủi ro khoa học và công nghệ, khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước, khả năng thương mại hóa và lan tỏa kết quả nghiên cứu...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.