Điện hạt nhân quy mô nhỏ: Giải pháp chiến lược cho an ninh năng lượng Việt Nam
Điện hạt nhân mô-đun nhỏ SMR là một trong những công nghệ được nhiều nước quan tâm và đã trở thành xu thế, bắt đầu được triển khai trong khu vực
Bảo Bình
11/05/2026
Từ một quốc gia "xuất siêu" năng lượng, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa phụ thuộc gần một nửa nguồn cung sơ cấp vào thị trường thế giới…
Theo TS. Nguyễn Ngọc Hưng, Trưởng phòng, Phòng Kinh tế Năng lượng, Viện Năng lượng (Bộ Công thương), 15 năm vừa qua, dù kinh tế toàn cầu có nhiều biến động, Việt Nam vẫn duy trì được mức tăng trưởng cao. Tăng trưởng GDP năm 2025 so với năm 2010 đã tăng khoảng 2,5 lần tính theo giá so sánh. Trong bối cảnh đó, tổng nhu cầu điện cũng tăng mạnh để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng GDP. Nhu cầu điện trong 15 năm qua đã tăng mạnh, đóng vai trò là "mạch máu" và động lực kinh tế chính.
"Điện phải đầy đủ để tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Xu thế điện hóa không chỉ dừng lại ở sinh hoạt mà đang lan rộng sang giao thông với xe điện và các ngành công nghiệp, gắn liền với mục tiêu chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải”, TS. Nguyễn Ngọc Hưng nhận định.
Phát biểu tại hội thảo quốc tế "Điện hạt nhân quy mô nhỏ: Giải pháp chiến lược cho an ninh năng lượng Việt Nam" do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phối hợp cùng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (VINATOM) tổ chức sáng 11/5, TS. Nguyễn Ngọc Hưng cho biết điểm cốt yếu nhất trong bức tranh năng lượng hiện nay chính là sự đảo chiều về vị thế của Việt Nam trên bản đồ năng lượng quốc tế.
Năm 2010, Việt Nam là quốc gia xuất siêu năng lượng (đạt mức 17,6% năng lượng sơ cấp). Thế nhưng, đến năm 2015, Việt Nam chính thức chuyển sang nhập siêu và con số này đang tăng. Năm 2025, khoảng 43,9% năng lượng sơ cấp của Việt Nam đã phụ thuộc vào nhập khẩu. Trong đó, than và dầu đóng góp gần 50% mức độ phụ thuộc này. Gánh nặng tài chính vô cùng lớn khi chi phí nhập khẩu năng lượng hiện chiếm khoảng 4,5% GDP.
Hiện nay, Bộ Công Thương đang xây dựng đề án đảm bảo an ninh năng lượng. Chia sẻ về an ninh năng lượng, Tiến sĩ Hưng cho rằng phải bao gồm ba khía cạnh.
Thứ nhất, an ninh năng lượng đòi hỏi hệ thống phải đảm bảo nguồn cung đầy đủ và tin cậy. Điều này bao gồm việc duy trì trữ lượng tài nguyên năng lượng, phát triển hạ tầng khai thác như than, dầu, khí và LNG, cũng như đầu tư vào các cơ sở sản xuất và chế biến như nhà máy điện, nhà máy lọc – hóa dầu và các tổ hợp chế biến năng lượng. Bên cạnh đó, cần xây dựng đồng bộ hạ tầng xuất nhập khẩu gồm kho chứa, cảng biển và hệ thống liên kết lưới điện để bảo đảm khả năng cung ứng năng lượng ổn định cho nền kinh tế.
Thứ hai, an ninh năng lượng phải bảo đảm tính ổn định và không bị đứt gãy. Hệ thống năng lượng cần có tính linh hoạt cao, bao gồm các nguồn điện linh hoạt, dịch vụ phụ trợ và khả năng điều chỉnh phụ tải. Đồng thời, cần duy trì dự phòng công suất, dự trữ xăng dầu, than và các hình thức lưu trữ năng lượng để tăng khả năng chống chịu trước các biến động bên ngoài. Hạ tầng truyền tải và phân phối như lưới điện, đường ống dầu khí và hệ thống vận tải năng lượng cũng đóng vai trò then chốt nhằm bảo đảm dòng chảy năng lượng thông suốt.
Thứ ba, an ninh năng lượng phải gắn với khả năng tiếp cận và chi trả của người dân và doanh nghiệp. Điều này thể hiện ở việc bảo đảm tỷ lệ tiếp cận điện và năng lượng sạch, duy trì mức giá năng lượng hợp lý và kiểm soát chi phí nhập khẩu năng lượng để không tạo áp lực quá lớn lên nền kinh tế. Một hệ thống năng lượng an toàn không chỉ cần đủ nguồn cung mà còn phải bảo đảm mọi thành phần trong xã hội có thể tiếp cận và sử dụng năng lượng với chi phí phù hợp.
Thực tế, an ninh năng lượng không chỉ là bài toán của riêng Việt Nam. Trên thế giới, nhu cầu điện không hề giảm đi mà đang có xu hướng bùng nổ trở lại tại các cường quốc phát triển như Bắc Mỹ, Châu Âu hay Nhật Bản. Nguyên nhân không còn nằm ở công nghiệp nặng truyền thống mà đến từ cuộc cách mạng số với các trung tâm dữ liệu khổng lồ, phương tiện giao thông xanh và sản xuất Hydro xanh.
Theo TS. Nguyễn Ngọc Hưng, nhiều kịch bản tăng trưởng khác nhau đã được xây dựng, dự báo nhu cầu điện. Theo kịch bản cao, xu hướng nhu cầu điện của Việt Nam trong kịch bản cao có hình dạng tương tự với các nước như Hàn Quốc hoặc Hoa Kỳ trong giai đoạn công nghiệp hóa mạnh, với mức tăng tiêu thụ điện bình quân đầu người khá nhanh. Các nhu cầu phi truyền thống sẽ có mức tăng tương đối cao, bao gồm trung tâm dữ liệu, giao thông vận tải điện, và ở các thập kỷ sau là sản xuất hydro xanh từ điện. Đây là những nhu cầu cần được tách riêng ra dự báo bởi tầm quan trọng và quy mô dẫn dắt của chúng đối với tổng nhu cầu điện.
TS Hưng cho biết điều chỉnh Quy hoạch Điện VIII đã được phê duyệt, xác định công suất nguồn điện cần vận hành trong giai đoạn đến 2031–2035. Trong bối cảnh yêu cầu tích hợp một lượng rất lớn năng lượng mặt trời và gió vào những năm sau, những yếu tố quan trọng cần có ở nguồn điện là: quy mô theo dạng mô-đun, tính linh hoạt về vị trí, và khả năng vận hành linh hoạt để hỗ trợ cân bằng hệ thống.
“Theo nghiên cứu của chúng tôi, lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) có khả năng vận hành linh hoạt hơn so với các lò phản ứng hạt nhân quy mô lớn, và đây là yếu tố quan trọng trong việc tích hợp năng lượng tái tạo biến đổi, khi công suất tái tạo có thể tăng giảm rất nhanh thì những nguồn vận hành linh hoạt sẽ rất tốt cho việc bù đắp điện nền”, TS Nguyễn Ngọc Hưng nói. “Quan trọng hơn, SMR là nguồn điện không phát thải, phù hợp với định hướng chuyển dịch năng lượng”.
Đại diện Viện Năng lượng cho rằng trong định hướng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng sạch, Việt Nam cần sớm xây dựng Chương trình phát triển điện hạt nhân theo các quy mô linh hoạt và các nhà máy điện hạt nhân lắp ráp module nhỏ; Đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu, phát triển công nghệ năng lượng nguyên tử, từng bước làm chủ công nghệ điện hạt nhân; Khuyến khích doanh nghiệp khu vực nhà nước và tư nhân tham gia phát triển điện hạt nhân module nhỏ.
"Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã mở đường cho việc phát triển năng lượng hạt nhân, bao gồm SMR. Chúng tôi hy vọng đến giai đoạn 2029-2030, khi xây dựng Quy hoạch Điện IX, công nghệ này sẽ được tích hợp một cách bài bản. Đây chính là giải pháp quý giá cho khả năng chống chịu của hệ thống và nâng cao tính tự chủ năng lượng quốc gia”, TS. Nguyễn Ngọc Hưng nhấn mạnh.
Việt Nam định hướng phát triển công nghiệp bán dẫn gắn với nhu cầu của các lĩnh vực như viễn thông, tự động hóa, năng lượng và giao thông, đồng thời tăng cường liên kết giữa thiết kế chip, nghiên cứu, sản xuất điện tử và phát triển chuỗi cung ứng...
Sinh viên đang thiếu những kỹ năng doanh nghiệp cần như kỹ năng con người, kỹ năng cá nhân hay kỹ năng mềm, trong khi lại rất tốt về năng lực số. Song năng lực số lại là lĩnh vực mà AI đang ngày càng có khả năng đảm nhiệm tốt hơn…
UAV mới chỉ là điểm khởi đầu của kinh tế tầm thấp. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng kết nối thiết bị, khai thác dữ liệu và phát triển những dịch vụ mới từ nền tảng công nghệ dùng chung…
Việc ban hành Danh mục dữ liệu mở và dữ liệu dùng chung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu, hạn chế việc thu thập hoặc yêu cầu cung cấp lại những thông tin đã có...
Việc khuyến khích đổi mới và ứng dụng AI trong dịch vụ công cần đi cùng những yêu cầu cụ thể về an toàn, cơ chế kiểm soát và trách nhiệm trong quá trình thực hiện…
Đáng chú ý, Hà Nội đang chuyển cách tiếp cận từ “làm khoa học, công nghệ” sang sử dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để giải quyết các bài toán phát triển….
Với sự tiến bộ của AI, đào tạo và phát triển con người trong năm 2027 sẽ hướng đến các chương trình mang tính thực tiễn, được thiết kế theo bối cảnh doanh nghiệp, giảm bớt những chương trình học tách biệt mà thay vào đó là các chuỗi đào tạo giúp tăng năng lực thực thi cho tổ chức...
Hà Nội đang mở rộng ứng dụng công nghệ vào quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công, hướng tới nâng cao hiệu quả phục vụ người dân…
Tại Chương trình chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia 2026, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đã đưa ra năm nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đưa chuyển đổi số trở thành động lực thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo…
Viễn thông vẫn chiếm gần một nửa giá trị ngành thông tin và truyền thông Hà Nội, song thị trường đang dần bão hòa khi hạ tầng 5G, cáp quang và wifi ngày càng phổ rộng…