Viễn thông Hà Nội tìm dư địa tăng trưởng khi thị trường dần bão hòa
Bảo Bình
09/10/2026
Chia sẻ
Viễn thông vẫn chiếm gần một nửa giá trị ngành thông tin và truyền thông Hà Nội, song thị trường đang dần bão hòa khi hạ tầng 5G, cáp quang và wifi ngày càng phổ rộng…
Hội nghị nắm bắt tình hình, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp viễn thông và bàn giải pháp tạo động lực phát triển trong những tháng cuối năm 2026. Ảnh: Lê Minh
Chiều 8/10, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội tổ chức Hội nghị nắm bắt tình hình, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp viễn thông và bàn giải pháp tạo động lực phát triển trong những tháng cuối năm 2026.
Hội nghị diễn ra trong bối cảnh Hà Nội đang tập trung triển khai các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng theo Chỉ thị số 17/CT-UBND ngày 23/7/2026, đồng thời cụ thể hóa các nhiệm vụ theo từng ngành, lĩnh vực. Với viễn thông, bài toán đặt ra không chỉ là tháo gỡ những vướng mắc trong đầu tư, vận hành hạ tầng, mà còn phải tìm thêm những nguồn giá trị mới khi các dịch vụ truyền thống có dấu hiệu chững lại. Các nhà mạng đang phải tìm kiếm dư địa tăng trưởng mới từ hạ tầng số, 5G và những mô hình dịch vụ mới.
THỊ TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG THU HẸP DƯ ĐỊA
Theo ông Cù Ngọc Trang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam nói chung và doanh nghiệp viễn thông Hà Nội nói riêng luôn là một trong những lực lượng tiên phong thúc đẩy kinh tế số. Vai trò của doanh nghiệp viễn thông không chỉ nằm trong phạm vi của chính ngành viễn thông mà còn có tính lan tỏa tới nhiều ngành kinh tế khác, bởi đây là lực lượng tạo dựng hạ tầng cho nền kinh tế, đặc biệt là kinh tế số.
Theo số liệu được công bố, ngành thông tin và truyền thông (ngành J) tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế dịch vụ của Hà Nội. Trong quý III/2026, giá trị tăng thêm của ngành J ước tăng 9,05%, cao hơn 2,32 điểm phần trăm so với quý II và đóng góp 0,96 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng GRDP 10,02% của Thành phố, đứng thứ ba trong các ngành dịch vụ.
Đáng chú ý, trong 9 tháng năm 2026, lĩnh vực viễn thông chiếm khoảng 48,6% giá trị của ngành J. Tuy nhiên, quy mô đóng góp lớn cũng đặt ra bài toán về động lực tăng trưởng trong giai đoạn tiếp theo khi thị trường viễn thông đang có xu hướng tương đối bão hòa.
Theo ông Cù Ngọc Trang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam nói chung và doanh nghiệp viễn thông Hà Nội nói riêng luôn là một trong những lực lượng tiên phong thúc đẩy kinh tế số. Vai trò của doanh nghiệp viễn thông không chỉ nằm trong phạm vi của chính ngành viễn thông mà còn có tính lan tỏa tới nhiều ngành kinh tế khác, bởi đây là lực lượng tạo dựng hạ tầng cho nền kinh tế, đặc biệt là kinh tế số.
Hạ tầng wifi, 5G và cáp quang hộ gia đình ngày càng được phủ rộng, trong khi chỉ số giá dịch vụ thông tin và truyền thông 9 tháng giảm 0,50% so với cùng kỳ; riêng quý III giảm 0,66%. Trong khi đó, những động lực mới đến từ công nghệ thông tin và chuyển đổi số cần thêm thời gian để chuyển hóa thành giá trị tăng thêm.
Theo định hướng tại hội nghị, ngành J đặt mục tiêu tăng trưởng 13,33% trong quý III/2026 và 15,98% trong quý IV. Khoảng cách giữa tốc độ tăng trưởng hiện tại của ngành với mục tiêu những tháng cuối năm cho thấy yêu cầu phải tìm kiếm thêm các động lực mới.
Ông Cù Ngọc Trang cho biết ngành viễn thông hiện đang hoạt động trong một bối cảnh tương đối khó khăn. Thị trường viễn thông truyền thống đã có dấu hiệu bão hòa. Ngành viễn thông đang đứng trước bài toán kép: vừa tiếp tục đầu tư để hoàn thiện hạ tầng, vừa khai thác hạ tầng hiện có để tạo ra các dịch vụ và nguồn doanh thu mới.
5G CẦN THÊM KHÔNG GIAN ĐỂ TẠO GIÁ TRỊ
Với VNPT Hà Nội, một trong những vấn đề được đặt ra là cơ chế sử dụng đất công cho các vị trí trạm BTS. Phó Giám đốc VNPT Hà Nội Nguyễn Duy Nghiêm đề xuất Sở Khoa học và Công nghệ tham mưu cơ chế phù hợp với quy hoạch trạm BTS, giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc đối chiếu, triển khai mà không phải mất nhiều thời gian liên hệ từng chủ cơ sở.
Ở hạ tầng cáp quang và hạ ngầm, VNPT đề nghị các sở, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thanh thải chung nhằm tránh lãng phí nguồn lực; đồng thời tiếp tục hỗ trợ cấp phép đào đường để thực hiện hạ ngầm và phối hợp bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ người dân.
Từ góc độ Viettel, bài toán quy hoạch hạ tầng cần được giải quyết ngay từ khi hình thành các khu đô thị, khu công nghiệp. Cụ thể, các khu đô thị, khu công nghiệp cần có quy hoạch chung về hạ tầng viễn thông tương tự hạ tầng điện, nước; riêng Hà Nội chưa có quy hoạch viễn thông thụ động, gây khó khăn trong triển khai.
“Việc thiếu quy hoạch hạ tầng viễn thông thụ động đang gây khó khăn cho các nhà mạng trong quá trình đầu tư, mở rộng mạng lưới”, Phó Giám đốc Hạ tầng Viettel Hà Nội, ông Trần Lê Phong, cho biết
Hiện Viettel có 48 trạm BTS tại các khu vực vùng lõm sóng chưa được phường, xã đồng ý lắp đặt. Doanh nghiệp kỳ vọng tiếp tục nhận được sự hỗ trợ để bảo đảm hạ tầng phục vụ phát triển mạng 5G và hướng tới các thế hệ mạng tiếp theo.
Trong khi đó, MobiFone cho biết đang gặp vướng mắc đối với 132 vị trí 5G do các phường, xã chưa có đơn giá thống nhất. Trưởng phòng Kinh doanh Hạ tầng số Tổng công ty Viễn thông MobiFone Nguyễn Văn Nghị đề nghị nghiên cứu, ban hành quy chuẩn đơn giá dùng chung đối với đất công, đồng thời cho phép triển khai lắp đặt trong thời gian chờ hoàn tất thủ tục phê duyệt.
Đáng chú ý, bên cạnh các kiến nghị về vị trí trạm và thủ tục đầu tư, MobiFone đề xuất Hà Nội thúc đẩy mạnh hơn các mô hình mới như mạng riêng (private network). Đây là dấu hiệu cho thấy dư địa tăng trưởng của viễn thông đang được tìm kiếm theo hướng khác: không chỉ mở rộng vùng phủ, mà khai thác hạ tầng kết nối để phục vụ những nhu cầu chuyên biệt của doanh nghiệp và các lĩnh vực kinh tế.
Theo đại diện các nhà mạng, nếu trước đây trọng tâm là mở rộng thuê bao và vùng phủ, thì khi các hạ tầng cơ bản ngày càng phổ cập, giá trị mới sẽ phải đến nhiều hơn từ khả năng cung cấp các dịch vụ số trên nền kết nối. Khi đó, 5G không chỉ được nhìn ở số lượng trạm phát sóng, mà còn ở khả năng kết nối với các mô hình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ mới.
GỠ ĐIỂM NGHẼN ĐỂ MỞ KHÔNG GIAN TĂNG TRƯỞNG
Từ phía cơ quan quản lý, các vướng mắc về hạ tầng được xác định là một trong những điều kiện cần được xử lý để doanh nghiệp có thể tiếp tục đầu tư và khai thác những dư địa mới.
Bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Trưởng phòng Kết nối và Hạ tầng số, cho biết đơn vị đã tham mưu đưa định hướng phát triển hạ tầng viễn thông thụ động vào quy hoạch chung của Thủ đô. Từ đầu tháng 8/2026, đơn vị cũng đã xử lý gần 50 quy hoạch chi tiết của các xã, phường. Cùng với đó, Sở đang nghiên cứu cơ chế giá khai thác tài sản ngầm, tận dụng các mô hình thử nghiệm (sandbox) của doanh nghiệp lớn, đồng thời phối hợp với Sở Xây dựng và ngành điện lực tháo gỡ những vấn đề liên quan đến thanh thải, đồng bộ các tuyến cáp ngầm.
Ngành viễn thông đang đứng trước bài toán kép: vừa tiếp tục đầu tư để hoàn thiện hạ tầng, vừa khai thác hạ tầng hiện có để tạo ra các dịch vụ và nguồn doanh thu mới. Ảnh minh họa
Thực tế, bài toán tăng trưởng của viễn thông Hà Nội không chỉ nằm ở khả năng đầu tư của doanh nghiệp, mà còn liên quan đến các vấn đề về quy hoạch, đất công, tài sản công, đơn giá, cấp phép và dùng chung hạ tầng cũng cần được xử lý đồng bộ, đặc biệt để hạ tầng tiếp tục được mở rộng và khai thác hiệu quả.
Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Cù Ngọc Trang cho biết, đối với các kiến nghị của doanh nghiệp, Sở sẽ triển khai những giải pháp thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ; với các nội dung cần phối hợp liên ngành, Sở sẽ làm đầu mối phối hợp với các cơ quan liên quan. Trước mắt, Sở dự kiến nghiên cứu thành lập nhóm công tác chung, tăng cường kết nối trực tiếp với doanh nghiệp; rà soát, cập nhật quy chế xây dựng trạm BTS và tham mưu các cơ chế liên quan đến đất công, tài sản công, tiền thuê đất và cấp phép xây dựng trong lĩnh vực viễn thông.
Các kiến nghị sau hội nghị sẽ được phân loại, xác định rõ đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, thời hạn và kết quả xử lý. Những nội dung vượt thẩm quyền sẽ được tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền.
Từ nội soi độ phân giải cao, xét nghiệm sinh học phân tử đến trí tuệ nhân tạo (AI), những tiến bộ công nghệ đang hỗ trợ bác sĩ phát hiện tổn thương sớm hơn, giảm nguy cơ bỏ sót và mở rộng lựa chọn điều trị cho người bệnh…
Số hóa, khai thác kho tư liệu bằng AI, bảo đảm an ninh mạng và xác thực thông tin là những yêu cầu đặt ra đối với báo chí trong quá trình chuyển đổi số, đặc biệt với nguồn tư liệu nghiệp vụ được tích lũy qua nhiều năm của báo chí công an nhân dân…
Khi hạ tầng năng lượng ngày càng phụ thuộc vào dữ liệu và công nghệ điều khiển, bảo vệ hệ thống công nghệ thông tin, công nghệ vận hành công nghiệp và nâng cao năng lực ứng phó sự cố trở thành yêu cầu quan trọng đối với an ninh năng lượng quốc gia…
Với AI, doanh nghiệp có thể cải thiện năng suất, tối ưu hóa quy trình, gia tăng lợi nhuận và duy trì khả năng cạnh tranh. Tác động này diễn ra ở mọi quy mô, từ các tập đoàn lớn đến doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Ngược lại, những doanh nghiệp chậm thích ứng với công nghệ có nguy cơ đánh mất lợi thế và tụt lại phía sau thị trường…
Cloud và AI đang thay đổi nhanh cách ngân hàng xây dựng sản phẩm, vận hành hệ thống và khai thác dữ liệu. Nhưng khi hạ tầng trở nên phân tán hơn, kết nối nhiều hơn và phụ thuộc vào nhiều bên hơn, bài toán bảo mật cũng thay đổi…
Để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hiệu quả cần có sự phối hợp của cả một hệ sinh thái dịch vụ, từ kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu, kể câu chuyện sản phẩm đến phát triển dữ liệu và chuyển đổi số…
Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, thị trường nhiều biến động, cần kết nối những xu hướng đang định hình kinh tế toàn cầu với các quyết định thực tế của doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách...
Từ một khóa học chuyển đổi số, Vàng Thị Mơi bắt đầu xây dựng dịch vụ thiết kế và hỗ trợ kinh doanh trực tuyến cho các hộ kinh doanh. Với Mơi, ứng dụng công nghệ số không chỉ là sử dụng AI hay mạng xã hội, mà còn giúp người dân giải quyết những nhu cầu thiết thực trong cuộc sống…
Trí tuệ nhân tạo đang tái định hình môi trường kinh doanh toàn cầu. Thách thức lớn nhất của doanh nghiệp không đơn thuần là ứng dụng AI, mà là nhận diện đúng cơ hội, tái định hình phương thức quản trị, đổi mới mô hình vận hành và chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành giá trị kinh doanh thực sự…
Ở mức cao nhất, hệ thống có thể tự động giải quyết thủ tục hành chính khi dữ liệu đủ để xác định người dân đáp ứng các điều kiện theo quy định. Khi đó, hệ thống chủ động xử lý và thông báo kết quả, người dân không phải tự khởi tạo và thực hiện từng bước thủ tục như trước…