nuôi cua bằng AInuôi cua AInuôi cua tuần hoàn AIcua lột Việt Nam
image Thứ Tư, 14/10/2026

Vì sao các tập đoàn Mỹ mạnh tay “nuôi” công nghệ, doanh nghiệp Việt vẫn dè dặt?

Bảo Bình

29/04/2026

Chia sẻ

Trong khi các tập đoàn lớn của Mỹ sẵn sàng tài trợ cho những doanh nghiệp nhỏ, startup phát triển sản phẩm mới, công nghệ mới thì tại Việt Nam, hành trình đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường vẫn gặp nhiều rào cản…

Đưa nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải vượt qua nhiều “khoảng cách” cả về công nghệ lẫn thể chế. Ảnh minh họa
Đưa nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải vượt qua nhiều “khoảng cách” cả về công nghệ lẫn thể chế. Ảnh minh họa

Theo Giáo sư Nguyễn Đức Hòa, Phó Hiệu trưởng Trường Vật liệu, Đại học Bách Khoa Hà Nội, khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng, cùng những hạn chế về cơ chế, hạ tầng và thị trường, đang khiến doanh nghiệp trong nước khó “nuôi” được công nghệ.

KHOẢNG CÁCH LỚN TỪ PHÒNG THÍ NGHIỆM ĐẾN THỊ TRƯỜNG

Đưa một kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải vượt qua nhiều “khoảng cách” cả về công nghệ lẫn thể chế. Theo Giáo sư Nguyễn Đức Hòa, khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng “vẫn rất lớn, và để thu hẹp khoảng cách này cần nhiều cơ chế phù hợp”.

Chuyên gia cho rằng một trong những điểm nghẽn quan trọng nằm ở chính sách. Hiện nay, việc đầu tư cho nghiên cứu học thuật và nghiên cứu ứng dụng vẫn chưa được phân tách rõ ràng, trong khi hai loại hình này có đặc điểm hoàn toàn khác nhau. Nghiên cứu ứng dụng hướng tới sản phẩm và thị trường, đòi hỏi nguồn lực lớn hơn, cách thức triển khai linh hoạt hơn, nhưng lại đang chịu sự điều chỉnh của những cơ chế chưa thực sự phù hợp.

Không chỉ dừng ở chính sách, cơ chế triển khai cũng là một rào cản đáng kể. Trong thực tế, có những đề tài phải mất vài tháng chỉ để hoàn tất thủ tục mua sắm thiết bị, vật tư. Điều này đặc biệt bất lợi khi sản phẩm đã tiến gần đến giai đoạn thương mại hóa. “Nếu phải mất quá nhiều thời gian cho các thủ tục như vậy, cơ hội đưa sản phẩm ra thị trường sẽ bị ảnh hưởng”, Giáo sư Nguyễn Đức Hòa cho biết.

Đặc biệt, với các lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, thách thức còn lớn hơn khi hạ tầng nghiên cứu hiện nay chủ yếu phục vụ cho việc chứng minh nguyên lý trong phòng thí nghiệm. Trong khi đó, để tiến tới ứng dụng thực tế, cần có những cơ sở hạ tầng ở cấp độ cao hơn, mang tính chất sản xuất thử nghiệm hoặc tiền công nghiệp – điều mà phần lớn các trường đại học và viện nghiên cứu trong nước còn thiếu.

Chính vì vậy, Giáo sư Nguyễn Đức Hòa nhấn mạnh sự cần thiết của việc xây dựng các phòng thí nghiệm hoặc trung tâm cấp quốc gia, nơi có thể chia sẻ hạ tầng cho nhiều nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp. Khi có những trung tâm như vậy, không chỉ giúp rút ngắn quá trình thương mại hóa, mà còn tạo nền tảng hình thành các hệ sinh thái công nghệ, với sự tham gia của doanh nghiệp hỗ trợ và các startup.

DOANH NGHIỆP NHỎ, STARTUP VIỆT KHÓ TIẾP CẬN CƠ HỘI

Đáng chú ý, Giáo sư Nguyễn Đức Hòa cho rằng một trong những khác biệt lớn giữa Việt Nam và các quốc gia phát triển như Mỹ nằm ở vai trò của các tập đoàn lớn, các doanh nghiệp đầu tàu trong quá trình phát triển công nghệ. Tại Mỹ, các doanh nghiệp, tập đoàn lớn sẵn sàng tài trợ cho những công ty, startup có vị thế trên thị trường để phát triển sản phẩm mới, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.

Google có các chương trình ươm tạo startup
Google có các chương trình ươm tạo startup

Chẳng hạn, các tập đoàn công nghệ lớn của Mỹ như Google, Microsoft, Amazon và Intel đang triển khai nhiều chương trình hỗ trợ thiết thực dành cho startup và doanh nghiệp nhỏ. Các chương trình này cung cấp grants (tiền tài trợ không hoàn lại), tham gia accelerator (chương trình ươm tạo tăng tốc), hỗ trợ sử dụng nền tảng đám mây, công nghệ AI và dịch vụ kỹ thuật, nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển sản phẩm mới và công nghệ tiên tiến.

Tại Mỹ, các doanh nghiệp, tập đoàn lớn sẵn sàng tài trợ cho những công ty, startup có vị thế trên thị trường để phát triển sản phẩm mới, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.

Trong khi đó, tại Việt Nam, việc tìm kiếm doanh nghiệp trong nước đủ năng lực tiếp nhận và phát triển kết quả nghiên cứu vẫn là bài toán khó. Hơn nữa, các công ty nhỏ ở Việt Nam rất khó tiếp cận những cơ hội như vậy. Theo Giáo sư Nguyễn Đức Hòa, nhiều nhóm nghiên cứu buộc phải tìm đến đối tác nước ngoài để tiếp tục phát triển sản phẩm, do thiếu sự đồng hành từ doanh nghiệp nội địa.

Một nguyên nhân quan trọng nằm ở sự khác biệt trong tư duy và cách vận hành. Trong môi trường phòng thí nghiệm, các nhóm nghiên cứu thường chưa đặt nặng yếu tố hiệu suất hay giá thành. Tuy nhiên, khi bước sang giai đoạn thương mại hóa, doanh nghiệp lại vận hành theo logic thị trường, ưu tiên tối ưu chi phí, lợi nhuận và khả năng cạnh tranh.

“Khi chuyển sang giai đoạn thương mại hóa, các yếu tố như hiệu suất, chi phí sản xuất và khả năng cạnh tranh trở nên rất quan trọng”, chuyên gia nhấn mạnh.

Sự “lệch pha” này khiến việc chuyển giao công nghệ trở nên khó khăn, đặc biệt khi cơ chế tài trợ nghiên cứu truyền thống vẫn được áp dụng cho cả giai đoạn thương mại hóa. Trong khi đó, các quỹ hỗ trợ cho startup công nghệ sâu tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, khiến doanh nghiệp khó có đủ nguồn lực để đầu tư dài hạn cho công nghệ.

Các quỹ hỗ trợ cho startup công nghệ sâu tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, khiến doanh nghiệp khó có đủ nguồn lực để đầu tư dài hạn cho công nghệ.

Bên cạnh đó, vấn đề sở hữu trí tuệ cũng là một yếu tố then chốt. Nếu công nghệ đã được đăng ký sáng chế ở nơi khác, việc phát triển và khai thác sẽ gặp nhiều ràng buộc. Do đó, cần có các chính sách phù hợp để vừa bảo vệ thành quả nghiên cứu trong nước, vừa tạo điều kiện cho các nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp khai thác giá trị kinh tế từ công nghệ.

Theo Giáo sư Nguyễn Đức Hòa, để giải quyết bài toán này, cần một cách tiếp cận đồng bộ, từ hoàn thiện chính sách, đầu tư hạ tầng đến phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp, startup không tiếp cận được những nguồn lực đủ lớn, sẽ “khó phát triển sản phẩm và không có sản phẩm thì cũng không thể tiếp cận thị trường. Do đó, bài toán thị trường và nguồn lực tài chính luôn gắn chặt với nhau”.

Nếu những “nút thắt” này được tháo gỡ, Việt Nam không chỉ cải thiện khả năng thương mại hóa công nghệ, mà còn từng bước hình thành lực lượng doanh nghiệp đủ mạnh để đầu tư và phát triển công nghệ, thay vì phụ thuộc vào đối tác nước ngoài. Khi đó, câu chuyện “nuôi” công nghệ sẽ không còn là đặc quyền của các tập đoàn ở những nền kinh tế phát triển.


Việt Nam thúc đẩy phát triển chip chuyên dụng gắn với nhu cầu thực tế

Việt Nam định hướng phát triển công nghiệp bán dẫn gắn với nhu cầu của các lĩnh vực như viễn thông, tự động hóa, năng lượng và giao thông, đồng thời tăng cường liên kết giữa thiết kế chip, nghiên cứu, sản xuất điện tử và phát triển chuỗi cung ứng...

16:32 14/10/2026
AI đang đặt ra những yêu cầu mới với đào tạo đại học

Sinh viên đang thiếu những kỹ năng doanh nghiệp cần như kỹ năng con người, kỹ năng cá nhân hay kỹ năng mềm, trong khi lại rất tốt về năng lực số. Song năng lực số lại là lĩnh vực mà AI đang ngày càng có khả năng đảm nhiệm tốt hơn…

08:48 14/10/2026
Xây dựng chuỗi giá trị cho kinh tế tầm thấp ở Việt Nam

UAV mới chỉ là điểm khởi đầu của kinh tế tầm thấp. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng kết nối thiết bị, khai thác dữ liệu và phát triển những dịch vụ mới từ nền tảng công nghệ dùng chung…

11:28 13/10/2026
Hà Nội ban hành danh mục dữ liệu mở, dữ liệu dùng chung: Hạn chế khai báo lại thông tin

Việc ban hành Danh mục dữ liệu mở và dữ liệu dùng chung nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng dữ liệu, hạn chế việc thu thập hoặc yêu cầu cung cấp lại những thông tin đã có...

11:28 13/10/2026
Ứng dụng AI trong dịch vụ công: Đặt an toàn và trách nhiệm lên hàng đầu

Việc khuyến khích đổi mới và ứng dụng AI trong dịch vụ công cần đi cùng những yêu cầu cụ thể về an toàn, cơ chế kiểm soát và trách nhiệm trong quá trình thực hiện…

09:16 13/10/2026
Hà Nội: Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đóng góp 22,85% GRDP

Đáng chú ý, Hà Nội đang chuyển cách tiếp cận từ “làm khoa học, công nghệ” sang sử dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để giải quyết các bài toán phát triển….

09:15 13/10/2026
Xây dựng hệ sinh thái năng lực cho doanh nghiệp Việt trong kỷ nguyên AI

Với sự tiến bộ của AI, đào tạo và phát triển con người trong năm 2027 sẽ hướng đến các chương trình mang tính thực tiễn, được thiết kế theo bối cảnh doanh nghiệp, giảm bớt những chương trình học tách biệt mà thay vào đó là các chuỗi đào tạo giúp tăng năng lực thực thi cho tổ chức...

08:53 12/10/2026
Hà Nội đẩy mạnh chuyển đổi số từ nhu cầu thực tế của người dân

Hà Nội đang mở rộng ứng dụng công nghệ vào quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công, hướng tới nâng cao hiệu quả phục vụ người dân…

15:38 09/10/2026
Năm nhiệm vụ trọng tâm thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia

Tại Chương trình chào mừng Ngày Chuyển đổi số quốc gia 2026, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đã đưa ra năm nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đưa chuyển đổi số trở thành động lực thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo…

13:48 09/10/2026
Viễn thông Hà Nội tìm dư địa tăng trưởng khi thị trường dần bão hòa

Viễn thông vẫn chiếm gần một nửa giá trị ngành thông tin và truyền thông Hà Nội, song thị trường đang dần bão hòa khi hạ tầng 5G, cáp quang và wifi ngày càng phổ rộng…

08:46 09/10/2026