Đây là rủi ro lớn với
Ấn Độ - nước sản xuất cà phê lớn thứ 7 thế giới - do khoảng 70% sản lượng cà
phê của nước này dành cho xuất khẩu, trong khi UAE, Kuwait, Jordan
và Saudi Arabia ngày càng trở thành các thị trường quan trọng trong thập kỷ qua.
“Các nhà xuất khẩu Ấn Độ có thể mất tới 80% thị trường Tây Á
trong những tháng tới”, ông Ramesh Rajah, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà xuất khẩu
Cà phê Ấn Độ, nói với tờ báo Nikkei Asia.
Theo ông Rajah, nguyên nhân là ngày càng nhiều cà phê xuất
khẩu của Ấn Độ phải đi qua eo biển Hormuz.
“Nhiều lô hàng bị giao chậm, phải đổi tuyến hoặc mắc kẹt ở
các điểm trung chuyển, trong khi cước vận tải leo thang làm lợi nhuận của doanh
nghiệp xuất khẩu bị bào mòn. Chi phí vận chuyển đã tăng gần gấp đôi kể từ khi
chiến sự Iran bùng phát, nhưng các nhà xuất khẩu Ấn Độ không dễ chuyển phần chi
phí tăng thêm này sang bên mua”, ông Rajah cho biết.
Ông Rajah cho biết ban đầu, nhiều người cho rằng tình trạng này chỉ kéo dài
vài tuần, nhưng thực tế đã dai dẳng hơn dự kiến, gây ra bất ổn trên toàn chuỗi
cung ứng.
Theo Ủy ban Cà phê Ấn Độ thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn
Độ, nước này sản xuất khoảng 350.000-370.000 tấn cà phê mỗi năm, tương đương
khoảng 3-4% sản lượng toàn cầu. Doanh thu xuất khẩu cũng gần như tăng gấp đôi,
từ khoảng 1,14 tỷ USD trong năm tài khóa kết thúc vào tháng 3/2023 lên mức kỷ lục
2,13 tỷ USD trong năm tài khóa kết thúc vào tháng trước.
Số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) xếp Ấn Độ là nước sản
xuất cà phê lớn thứ 7 thế giới, sau Brazil, Việt Nam và 4 nước khác.
Ông Jacob Mammen, CEO công ty Badra Estates - doanh nghiệp Ấn
Độ thành lập từ năm 1943 - cho rằng ngoài các gián đoạn trước mắt, cuộc khủng
hoảng hiện nay còn là phép thử đối với quá trình chuyển dịch của ngành cà phê Ấn
Độ. Ông cho rằng ngành cà phê Ấn Độ chỉ thực sự chuyển mình sau làn sóng tự do
hóa vào thập niên 1990, khi nước này chấm dứt cơ chế phân phối và tiêu thụ do
Nhà nước kiểm soát suốt nhiều thập kỷ và mở đường để người trồng cà phê tham
gia sâu hơn vào thị trường toàn cầu.
“Kể từ đó, Ấn Độ đã từng bước mở rộng hiện diện tại châu Âu
và châu Á, đồng thời chuyển trọng tâm sang cà phê đặc sản và các sản phẩm có
giá trị gia tăng cao hơn”, ông Mammen nhận xét.
Theo Ủy ban Cà phê Ấn Độ, nước này sản xuất cả arabica và
robusta, trong đó robusta chiếm khoảng 70% tổng sản lượng. Những dòng sản phẩm
đặc biệt như robusta cao cấp và các loại cà phê đặc sản như Monsooned Malabar
đã giúp Ấn Độ tạo chỗ đứng trong phân khúc xuất khẩu giá trị cao, phục vụ nhiều
thị trường lớn ở Tây Á và châu Âu như Italy, Đức và Nga. Ấn Độ cũng đã trở
thành một nguồn cung cà phê hòa tan quan trọng cho thị trường Nhật Bản.
Tuy nhiên, triển vọng của ngành cà phê xuất khẩu nước này xấu đi kể từ khi các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào Iran bắt đầu
ngày 28/2. Dữ liệu thương mại của Liên hợp quốc (UN) cho thấy các thị trường
Tây Á chiếm 16,1% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Ấn Độ trong năm 2024,
tăng từ 12,6% cách đây một thập kỷ.
Các nhà xuất khẩu Ấn Độ, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa,
phụ thuộc nhiều vào các tuyến hàng hải đi qua eo biển Hormuz và Biển Đỏ. Trong
mùa cao điểm Ramadan vừa qua, khi nhu cầu nhập khẩu tăng lên tại nhiều nước
Trung Đông, tình trạng giao hàng chậm đã làm xáo trộn đáng kể hoạt động thương mại.
Chia sẻ với Nikkei Asia, lãnh đạo một số doanh nghiệp xuất
khẩu lớn của Ấn Độ cho biết họ đang chịu sức ép lớn từ tình trạng giao hàng chậm,
chi phí vận chuyển tăng và điểm nghẽn logistics trên các tuyến liên quan tới
Trung Đông, dù vẫn thu mua cà phê từ nông dân.
Thị trường cũng đang xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên cho
thấy dòng chảy cà phê toàn cầu đang có sự thay đổi. Một số khách mua ở châu Âu đã
chuyển sang tăng nhập khẩu cà phê từ các nguồn thay thế như Uganda, cho thấy
gián đoạn nguồn cung có thể đang khiến dòng thương mại thay đổi theo hướng bất
lợi cho người trồng cà phê Ấn Độ.
Ông Thomas Jacob, Giám đốc công ty Poabs Estates tại bang
Kerala, Ấn Độ, cho biết bất định trong hoạt động vận chuyển cùng chi phí tăng
cũng đang khiến doanh nghiệp xuất khẩu thận trọng hơn, qua đó ảnh hưởng tới giá cả và tiến độ
thu mua.
“Các hộ nông dân nhỏ và vừa, vốn phụ thuộc nhiều vào thị trường
xuất khẩu, là nhóm dễ bị tổn thương nhất vì mỗi khi giá xuất khẩu chịu sức ép,
phần thiệt thường dồn xuống người trồng cà phê”, ông Thomas Jacob nói với
Nikkei Asia.