Nắng nóng kỷ lục trong mùa hè vừa qua đã khiến 50.391 người tử vong tại 854 thành phố châu Âu, trong đó 32.619 trường hợp được xác định có liên quan đến lượng nhiệt tăng thêm do biến đổi khí hậu do con người gây ra. Đây là kết quả của một nghiên cứu mới dự kiến được công bố trên tạp chí Nature Health.
Nghiên cứu cho thấy tác động của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe con người đang ngày càng rõ rệt, khi tỷ lệ tử vong do nắng nóng có thể quy cho hiện tượng nóng lên toàn cầu đã tăng từ khoảng 45% vào đầu những năm 2000 lên khoảng 65% hiện nay.
Các nhà nghiên cứu cho rằng số liệu tử vong trong mùa hè vừa qua thậm chí có thể còn cao hơn, bởi nghiên cứu chưa tính đến một đợt nắng nóng gây chết người hồi tháng 5 và chỉ khảo sát 854 thành phố, nơi sinh sống của khoảng 40% dân số châu Âu.
Theo nghiên cứu, số người tử vong do nắng nóng tại 854 thành phố châu Âu trong mùa hè vừa qua cao hơn 71% so với mùa hè năm 2022, thời điểm ghi nhận 29.480 ca tử vong và từng được xem là mùa hè có số người chết do nắng nóng cao nhất trong dữ liệu của nhóm nghiên cứu.
Nhóm khoa học đã mô hình hóa số ca tử vong liên quan đến nhiệt độ cao ở các nhóm tuổi khác nhau trong những đợt nắng nóng liên tiếp diễn ra vào tháng 6, tháng 7 và tháng 8. Kết quả cho thấy trong tổng số 50.391 người tử vong, có 32.619 trường hợp liên quan đến lượng nhiệt tăng thêm do việc đốt than, dầu và khí đốt gây ra biến đổi khí hậu.
Mức nhiệt khắc nghiệt không chỉ ảnh hưởng đến người cao tuổi mà còn gây tử vong ở những nhóm dân số trẻ hơn.
Khoảng 1/3 tổng số ca tử vong xảy ra trong giai đoạn từ ngày 17/6 đến ngày 1/7, khi châu Âu trải qua một đợt nắng nóng đặc biệt gay gắt. Trong thời gian này, nhiệt độ cao hơn mức bình thường 5,3 độ C.
Hơn một nửa số người tử vong do nắng nóng tại châu Âu từ 85 tuổi trở lên. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng ghi nhận hơn 800 trường hợp tử vong trong nhóm tuổi từ 20 đến 44.
Italy, Pháp, Tây Ban Nha và Đức là những quốc gia ghi nhận số người tử vong do nắng nóng cao nhất trong nghiên cứu. Trong khi đó, Rome là thủ đô châu Âu có số ca tử vong do nắng nóng cao nhất trong giai đoạn 2000-2025, theo một nghiên cứu khác do cùng nhóm tác giả công bố hồi đầu tháng.
Theo bà Clair Barnes, tác giả chính của nghiên cứu, nhà khoa học khí hậu thuộc Đại học Imperial College London, tại một số thành phố châu Âu trong mùa hè vừa qua, nhiệt độ cao hơn mức bình thường tới 12 độ C.
Phần lớn khu vực Tây Âu và Bắc Âu có cơ sở hạ tầng chưa được thiết kế để ứng phó với mức nhiệt độ mà chúng ta đang chứng kiến hiện nay do tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu do con người gây ra.
Bà Barnes cho rằng châu Âu là châu lục nóng lên nhanh nhất thế giới, dù khu vực Bắc Cực đang ấm lên nhanh hơn. So với thời kỳ tiền công nghiệp, nhiệt độ tại châu Âu đã tăng khoảng 2,5 độ C.
Mức tăng này có thể không tạo ra cảm giác quá lớn nếu chỉ xét về con số, nhưng lại có ý nghĩa đáng kể đối với sức khỏe con người. Theo bà Barnes, phần nhiệt độ tăng thêm do hoạt động của con người có thể đẩy điều kiện thời tiết từ mức khó chịu sang nguy hiểm, thậm chí gây tử vong.
Một thách thức lớn trong việc đánh giá tác động của nắng nóng là số ca tử vong liên quan đến nhiệt độ cao thường không được thống kê đầy đủ.
Ông Konstantinoudis cho biết trong nhiều trường hợp, nắng nóng không được ghi nhận trực tiếp là nguyên nhân tử vong trên giấy chứng tử, dù có thể đóng vai trò quan trọng trong việc làm trầm trọng thêm tình trạng sức khỏe hoặc dẫn đến tử vong.
Do đó, nhóm nghiên cứu phải sử dụng các mô hình thống kê để ước tính tổng số ca tử vong, thay vì chỉ dựa vào số liệu được ghi nhận trực tiếp trong hệ thống thống kê y tế.
Phương pháp được sử dụng dựa trên các nghiên cứu khoa học đã qua bình duyệt trước đó. Các nhà khoa học xây dựng mô hình tính toán cho từng nhóm tuổi và từng thành phố, đồng thời xác định mức nhiệt độ tối ưu tại địa phương - mức nhiệt gắn với số ca tử vong thấp nhất.
Khi nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng tối ưu, mô hình sẽ ước tính số ca tử vong vượt mức thấp nhất có thể ghi nhận trong điều kiện nhiệt độ thuận lợi.
Để xác định phần tử vong có thể quy cho biến đổi khí hậu, nhóm nghiên cứu tiếp tục mô phỏng bằng máy tính một kịch bản thế giới không có hiện tượng nóng lên do con người gây ra. Kết quả mô phỏng sau đó được so sánh với số ca tử vong thực tế trong mùa hè vừa qua. Phần chênh lệch được sử dụng để ước tính tác động của biến đổi khí hậu.
Các nhà nghiên cứu cũng đối chiếu kết quả mô hình với những ước tính của cơ quan chính phủ. Theo ông Konstantinoudis, các số liệu nhìn chung tương đối sát nhau, dù không phải lúc nào cũng trùng khớp.
Chẳng hạn, đối với các đợt nắng nóng tại Anh trong tháng 5 và tháng 6, mô hình của nhóm nghiên cứu ước tính có 2.700 ca tử vong vượt mức thông thường. Trong khi đó, cơ quan thống kê y tế của Vương quốc Anh đưa ra con số 2.800 trường hợp.
Một số chuyên gia độc lập đánh giá phương pháp nghiên cứu thuộc nhóm tiên tiến hiện nay. Tiến sĩ Howard Frumkin, cựu Giám đốc Trung tâm Quốc gia về Sức khỏe Môi trường của Mỹ, cho rằng sự kết hợp giữa nhiệt độ mùa hè ngày càng tăng và các công cụ phân tích ngày càng chính xác đang giúp xác định rõ hơn quy mô tử vong liên quan đến nắng nóng.
Mùa hè ngày càng nóng hơn, trong khi các công cụ phân tích để xác định số ca tử vong do nắng nóng cũng ngày càng chính xác. Hai xu hướng này kết hợp với nhau tạo ra những con số tử vong liên quan đến nắng nóng ngày càng cao và đáng tin cậy hơn.
Theo ông Frumkin, hai xu hướng này khiến số liệu tử vong do nắng nóng được ghi nhận ngày càng cao, đồng thời phản ánh chính xác hơn tác động thực tế của hiện tượng này.
Dù vậy, các tác giả nhấn mạnh số liệu của nghiên cứu chỉ phản ánh tình hình tại 854 thành phố được khảo sát, tương đương khoảng 40% dân số châu Âu. Việc không tính đến đợt nắng nóng trong tháng 5 cũng đồng nghĩa tổng số ca tử vong thực tế trong toàn khu vực có thể cao hơn đáng kể.
Trước nguy cơ các đợt nắng nóng cực đoan ngày càng gia tăng, các chuyên gia cho rằng những biện pháp thích ứng cần được triển khai khẩn cấp, đồng thời phải xử lý nguyên nhân gốc rễ là việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Tiến sĩ Courtney Howard, bác sĩ cấp cứu người Canada và là Chủ tịch đắc cử Hiệp hội Y khoa Canada, cho rằng các quốc gia cần chuẩn bị để ứng phó với mức nhiệt mà hiện nay không thể tránh khỏi hoàn toàn.
Cần đầu tư khẩn cấp vào hệ thống cảnh báo sớm nắng nóng, bảo đảm mọi người được tiếp cận công bằng với các giải pháp làm mát ít phát thải carbon; xây dựng các mạng lưới hỗ trợ trong cộng đồng để kiểm tra, chăm sóc và giúp đỡ những người có nguy cơ cao nhất. Cùng với đó, phải nhanh chóng giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch- nguyên nhân thúc đẩy cuộc khủng hoảng này.
Những biện pháp này đặc biệt quan trọng đối với người cao tuổi và các nhóm dân cư dễ bị tổn thương trước nhiệt độ cực đoan. Tuy nhiên, bà Howard nhấn mạnh việc giảm nhanh mức tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch vẫn là yêu cầu thiết yếu để hạn chế đà gia tăng của cuộc khủng hoảng khí hậu.
Tiến sĩ Jonathan Patz, giáo sư về sức khỏe và môi trường tại Đại học Wisconsin-Madison, cũng cho rằng chỉ thích ứng với nắng nóng là chưa đủ.
Ông ví việc chỉ tập trung xử lý hậu quả mà không giải quyết nguyên nhân giống như lau dọn nước tràn trên sàn nhà mà không khóa vòi nước. Theo ông, các quốc gia cần triển khai đồng thời những biện pháp bảo vệ sức khỏe trước các đợt nắng nóng và những giải pháp nhằm hạn chế sự nóng lên toàn cầu.
Điều này bao gồm cải thiện các hệ thống làm mát, bảo vệ nhóm dân cư dễ bị tổn thương trước tần suất và cường độ nắng nóng cực đoan ngày càng tăng, đồng thời giảm phát thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch.
Kết quả nghiên cứu tại châu Âu cho thấy nắng nóng không chỉ là một hiện tượng thời tiết cực đoan mà còn là nguy cơ sức khỏe cộng đồng có thể gây tử vong trên diện rộng. Khi nhiệt độ nền tiếp tục tăng, phần nhiệt bổ sung do biến đổi khí hậu có thể khiến những đợt nắng nóng vốn đã nguy hiểm trở nên nghiêm trọng hơn.
Các chuyên gia vì vậy cho rằng ứng phó hiệu quả đòi hỏi sự kết hợp giữa cảnh báo sớm, đầu tư hạ tầng thích ứng, bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương và giảm nhanh việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch.




Qua đánh giá hiện trạng thu thập số liệu phục vụ kiểm kê phát thải khí nhà kính trong 6 lĩnh vực (năng lượng; các quá trình công nghiệp; xây dựng; giao thông vận tải; nông, lâm nghiệp và sử dụng đất; chất thải), cơ quan thống kê chỉ rõ những khoảng trống số liệu. Trên cơ sở đó, cơ quan này đề xuất bổ sung 217 chỉ tiêu thống kê mới phục vụ kiểm kê khí nhà kính cùng lộ trình triển khai đến năm 2030...
Vừa qua, trong khuôn khổ chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới châu Âu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã thúc đẩy hợp tác với EU, Đan Mạch và Bỉ về nông nghiệp bền vững, công nghệ sinh học, kinh tế biển xanh, bảo vệ môi trường và chống khai thác IUU.
Sử dụng hệ thống pin tích hợp trong cánh, máy bay E9X của công ty khởi nghiệp Hà Lan Elysian Aircraft được thiết kế để chở 90 hành khách, với tầm bay ban đầu 800 km và mục tiêu đạt 1.000 km. Dự kiến đi vào khai thác năm 2034, mẫu máy bay này được kỳ vọng góp phần giảm đáng kể lượng phát thải của ngành hàng không…
Góp ý kiến vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật; đồng thời làm rõ một số nội dung để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...
Theo lộ trình, Việt Nam thực hiện mục tiêu cắt giảm 67,5% lượng tiêu thụ cơ sở HCFC trong giai đoạn 2025-2029, tiến tới giảm 97,5% từ năm 2030 và loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Từ thực tế lượng thiết bị đang sử dụng HCFC-22 hiện nay với nhu cầu môi chất lạnh cho sửa chữa, bảo dưỡng vẫn còn lớn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra bài toán thu hồi, tái chế, tái sử dụng, quản lý môi chất theo vòng đời. Tính toán cho thấy Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 tấn HCFC-22 vào năm 2030…
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.