Sáng ngày 24/10/2026, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết việc xây dựng, trình Quốc hội xem xét ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường nhằm thể chế hóa đầy đủ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là các quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.
Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung 79/171 điều của Luật Bảo vệ môi trường hiện hành; trong đó, bổ sung một số điều mới.
Cụ thể, dự thảo luật cắt giảm đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường và đối tượng phải có giấy phép môi trường; đơn giản hóa hồ sơ, nội dung và trình tự thực hiện; chuyển một số đối tượng sang đăng ký môi trường. Việc thực hiện thẩm định đánh giá tác động môi trường, cấp và điều chỉnh giấy phép môi trường trên môi trường điện tử trực tuyến. Trong đó, quy định nguyên tắc phân định thẩm quyền thẩm định đánh giá tác động môi trường theo mức độ nguy cơ tác động xấu đến môi trường và tính chất đặc thù của dự án; tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương.
Dự thảo cũng tăng cường quản trị môi trường dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và mức độ rủi ro. Dự thảo Luật đã quy định tiếp cận quản trị môi trường dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; yêu cầu doanh nghiệp tạo lập, cập nhật dữ liệu điện tử.
Dự thảo cũng bổ sung cơ chế giám sát nguy cơ ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường dựa trên thông tin, dữ liệu công nghệ số và đánh giá tại hiện trường nhằm nhận diện sớm, cảnh báo và phòng ngừa rủi ro. Tăng cường dự báo, cảnh báo ô nhiễm môi trường. Bổ sung quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, sản phẩm, dịch vụ có tiềm năng mang lại lợi ích về môi trường.
Một điểm quan trọng trong dự thảo là đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng chất thải, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và chính sách mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất. Theo đó, dự thảo bổ sung quy định nguyên tắc tổ chức phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình, cá nhân và giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện; quy định trách nhiệm cập nhật dữ liệu về phát sinh, thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý.
Dự thảo cũng sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý chất thải nhằm thúc đẩy tái chế, tái sử dụng chất thải và quản lý vật liệu tái chế, thu hồi từ chất thải; giao Chính phủ quy định lộ trình tái chế trong sản phẩm, hàng hóa.
Đối với trách nhiệm tái chế, xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu, dự thảo luật không quy định hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, giao Chính phủ quy định hình thức khác phù hợp để bảo đảm trách nhiệm thu gom, tái chế thực chất của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu.
Dự thảo luật hoàn thiện cơ chế quản lý chất lượng môi trường không khí, môi trường nước theo khả năng chịu tải. Bổ sung quy định về dự báo, tăng cường kiểm kê khí thải, thiết lập vùng phát thải thấp.
Về hoàn thiện quy định ứng phó với biến đổi khí hậu, dự thảo luật chuyển từ giảm nhẹ sang quản lý phát thải khí nhà kính. Cùng với đó, dự thảo cũng hoàn thiện quy định về phân bổ hạn ngạch phát thải, trách nhiệm thực hiện mục tiêu đóng góp do quốc gia tự quyết định; bổ sung quy định về thị trường carbon trong nước, quản lý tín chỉ và sàn giao dịch carbon, thu gom, tái chế, tái sử dụng, xử lý các chất thải được kiểm soát.
Báo cáo thẩm tra dự án luật này, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết Ủy ban tán thành với sự cần thiết sửa đổi dự án luật. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát để thể chế hóa đầy đủ nội dung của Kết luận số 75 đối với nội dung về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) với mô hình kinh doanh xanh, tuần hoàn; yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường.
Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm toàn bộ về tính khả thi, minh bạch đối với các chính sách mới được đề xuất trong luật; bảo đảm không tạo ra khoảng trống hoặc điểm nghẽn mới làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực, cản trở, ách tắc khi triển khai.
Với nội dung phân loại dự án và đánh giá tác động môi trường, báo cáo thẩm tra nêu rõ, thực tiễn cho thấy việc phân loại dự án và thủ tục đánh giá tác động môi trường hiện nay chưa tương ứng với mức độ rủi ro, làm tăng chi phí của dự án ít nguy cơ.
Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tán thành chủ trương phân loại dự án theo mức độ rủi ro (thu gọn lại còn 3 nhóm) và mở rộng một số trường hợp không phải thực hiện ĐTM. Tuy nhiên, cắt giảm thủ tục phải đi cùng với phân loại rủi ro chính xác, định lượng các yếu tố nhạy cảm và hậu kiểm hiệu quả.
Cơ quan thẩm tra đề nghị đánh giá thận trọng khi bỏ các yếu tố nhạy cảm về môi trường như khu dân cư tập trung, nguồn nước cấp sinh hoạt và tiêu chí loại hình, quy mô của nguồn thải đối với sức khỏe cộng đồng. Đồng thời đề nghị không đưa các dự án thứ cấp trong khu/cụm công nghiệp khi có nguồn thải lớn, chất thải độc hại hoặc nhập khẩu phế liệu vào diện miễn ĐTM, qua đó vừa giảm thủ tục cho dự án rủi ro thấp vừa kiểm soát chặt dự án rủi ro cao.
Về giấy phép môi trường và đăng ký môi trường, dự thảo đã sửa theo hướng đơn giản hóa và tăng cường sử dụng phương thức điện tử. Tuy nhiên, báo cáo đề nghị chuyển từ tư duy cấp giấy phép xả thải sang cấp giấy phép vận hành môi trường. Giấy phép phải quy định rõ nghĩa vụ, điều kiện phát thải, vận hành công trình bảo vệ môi trường, quan trắc tự động và quản lý rủi ro. Thực hiện 100% thủ tục trên môi trường điện tử và không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại dữ liệu đã được xác thực trên hệ thống quốc gia. Cơ quan thẩm tra cho rằng “cách tiếp cận này sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ, chuyển trọng tâm từ kiểm tra hồ sơ sang giảm thiểu rủi ro”.
Về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì, thực tiễn cho thấy hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường chưa thúc đẩy hệ thống thu gom, tái chế thực chất. Trong dự thảo luật đã bỏ hình thức này và đề xuất nhiều hình thức tái chế mới. Tuy nhiên, để tránh gây khó khăn cho doanh nghiệp khi hạ tầng tái chế chưa đáp ứng, cơ quan thẩm tra đề nghị quy định rõ lộ trình hoặc cho phép bù trừ nghĩa vụ giữa các sản phẩm cùng nhóm.
Về kiểm kê khí nhà kính, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị đánh giá kỹ yêu cầu chuyển tần suất kiểm kê khí nhà kính từ 2 năm một lần sang hàng năm vì có thể làm tăng chi phí không cần thiết. Đồng thời đề nghị sửa theo hướng quản lý dựa trên rủi ro: cơ sở phát thải lớn hoặc biến động mạnh sẽ thực hiện hàng năm; cơ sở có công nghệ phát thải ổn định giữ chu kỳ 2 năm nhưng phải báo cáo khi có biến động. Cơ quan thẩm tra cho rằng cách làm này giúp tập trung quản lý vào nguồn thải quan trọng, giảm chi phí tuân thủ đối với nhóm rủi ro thấp.
Về quan trắc và tính toàn vẹn của dữ liệu môi trường, thực tế đã xuất hiện hành vi can thiệp phần mềm làm sai lệch số liệu quan trắc gây thiệt hại lớn. Dự thảo Luật đã sửa để bảo đảm chặt chẽ hơn, nhưng cần bổ sung quy định về quản lý toàn bộ chuỗi dữ liệu (không chỉ quản lý thiết bị và tổ chức quan trắc). Dữ liệu từ thiết bị đo đến hệ thống tiếp nhận phải có mã định danh, dấu thời gian và nhật ký điện tử; mọi thao tác chỉnh sửa phải được lưu vết, đảm bảo dữ liệu có độ tin cậy và giá trị pháp lý hậu kiểm để xử lý vi phạm…
Sử dụng hệ thống pin tích hợp trong cánh, máy bay E9X của công ty khởi nghiệp Hà Lan Elysian Aircraft được thiết kế để chở 90 hành khách, với tầm bay ban đầu 800 km và mục tiêu đạt 1.000 km. Dự kiến đi vào khai thác năm 2034, mẫu máy bay này được kỳ vọng góp phần giảm đáng kể lượng phát thải của ngành hàng không…
Góp ý kiến vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật; đồng thời làm rõ một số nội dung để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...
Theo lộ trình, Việt Nam thực hiện mục tiêu cắt giảm 67,5% lượng tiêu thụ cơ sở HCFC trong giai đoạn 2025-2029, tiến tới giảm 97,5% từ năm 2030 và loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Từ thực tế lượng thiết bị đang sử dụng HCFC-22 hiện nay với nhu cầu môi chất lạnh cho sửa chữa, bảo dưỡng vẫn còn lớn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra bài toán thu hồi, tái chế, tái sử dụng, quản lý môi chất theo vòng đời. Tính toán cho thấy Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 tấn HCFC-22 vào năm 2030…
Nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ việc cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Nếu giảm tiền kiểm nhưng năng lực hậu kiểm không đáp ứng yêu cầu thì sẽ khó bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường...
Việt Nam đang hoàn thiện khung pháp lý và đẩy mạnh các giải pháp quản lý môi chất lạnh theo Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, hướng tới thu hồi, tái chế xuyên suốt vòng đời thiết bị, góp phần bảo vệ tầng ozone và giảm phát thải khí nhà kính...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.