Tại Diễn đàn “Khoa học và doanh nhân trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” do Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động và Hội Nghiên cứu khoa học về Đông Nam Á - Việt Nam tổ chức ngày 16/5, các diễn giả nhận định trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang chuyển dịch mạnh mẽ dưới tác động của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, biến đổi khí hậu và các tiêu chuẩn phát triển bền vững ngày càng khắt khe. Khoa học công nghệ không còn là yếu tố hỗ trợ mà đã trở thành nền tảng cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
NHIỀU NÚT THẮT CẢN TRỞ ĐẦU TƯ CHO KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ
Ứng dụng khoa học công nghệ giúp doanh nghiệp Việt Nam chuyển đổi từ mô hình truyền thống sang sản xuất thông minh, tự động hóa, tối ưu hóa chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là nền tảng cốt lõi để phát triển bền vững và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đơn cử như trong lĩnh vực nông nghiệp, đây không chỉ là câu chuyện nâng cao năng suất mà còn là bài toán về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải, tối ưu tài nguyên và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Ông Huỳnh Văn Pháp, Phó Tổng Giám đốc, Công ty Cổ phần Thành Thành Công – Biên Hòa (AgriS), chia sẻ tri thức nông học chính là nền móng đầu tiên, từ những nghiên cứu sâu về cây trồng, đất đai, thổ nhưỡng, môi trường canh tác, dinh dưỡng cây trồng và biến đổi khí hậu để xây dựng các mô hình nông nghiệp tuần hoàn hiệu quả.
Những nông trường khảo nghiệm được AgriS phát triển không đơn thuần là vùng sản xuất, mà được xem như những “phòng thí nghiệm sống”, nơi các tiến bộ khoa học được kiểm chứng trực tiếp trên thực địa trước khi nhân rộng ra quy mô lớn.
Khi nền tảng tri thức được chuẩn hóa, công nghệ trở thành “động cơ gia tốc”. AgriS đẩy mạnh ứng dụng Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), máy bay không người lái, công nghệ cảm biến và hệ thống quản trị dữ liệu lớn trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp.
“Chuyển đổi số trong nông nghiệp không phải là “số hóa cho hiện đại”, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện mô hình sản xuất và quản trị trên nền tảng khoa học dữ liệu”, ông Pháp nhấn mạnh; đồng thời cho biết chính nhờ chiến lược phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo và ESG, AgriS đã từng bước xây dựng được lợi thế cạnh tranh rõ nét trên thị trường quốc tế. Hiện doanh nghiệp sở hữu hệ sinh thái hơn 200 dòng sản phẩm, phục vụ gần 80 thị trường xuất khẩu trên thế giới.
Mặc dù vậy vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, rào cản, nút thắt đang cản trở sự phát triển của khoa học, công nghệ như thể chế, cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật, nguồn lực, phương tiện…
Hội Nghiên cứu Khoa học về Đông Nam Á chỉ rõ phạm vi đổi mới sáng tạo nội sinh của doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Những hạn chế về tài chính, nguồn nhân lực và năng lực quản trị vẫn ảnh hưởng đến khả năng đổi mới của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ hoặc doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ.
Quan trọng hơn, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế tri thức, nhưng vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh.
Chính phủ đã triển khai nhiều chương trình hướng tới việc tăng cường liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, nhưng việc triển khai chưa mạnh mẽ. Một số quy định pháp lý còn phức tạp và thiếu đồng bộ, trong khi sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức khoa học và công nghệ chưa thực sự hiệu quả.
Hơn nữa, mức độ tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam vẫn chưa nhiều. Nguyên nhân do phần lớn doanh nghiệp trong nước là nhỏ và vừa, nguồn lực tài chính hạn chế trong khi hoạt động R&D thường đòi hỏi chi phí cao và rủi ro lớn, khiến nhiều doanh nghiệp không sẵn sàng đầu tư cho các dự án nghiên cứu dài hạn. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp có xu hướng nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài thay vì hợp tác nghiên cứu với các viện và trường đại học trong nước.
COI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ LÀ ĐỘNG LỰC CHÍNH CỦA TĂNG TRƯỞNG THAY VÌ CHỈ LÀ YẾU TỐ HỖ TRỢ
Để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển quốc gia, ông Pháp nhấn mạnh cần có sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa Nhà nước – Nhà khoa học – doanh nghiệp – nhà nông – ngân hàng và các định chế tài chính. Thực tế cho thấy, nhiều kết quả nghiên cứu khoa học vẫn chưa được thương mại hóa hiệu quả, trong khi doanh nghiệp nhiều khi thiếu cơ chế tiếp cận công nghệ hoặc thiếu nguồn lực để đầu tư dài hạn cho đổi mới sáng tạo.
Nhằm khắc phục những hạn chế trên, ông Pháp kiến nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D; thúc đẩy hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn xanh và các chương trình chuyển giao công nghệ quốc tế.
Bên cạnh đó, cần đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và doanh nhân có tư duy toàn cầu, khả năng đổi mới sáng tạo và tinh thần dấn thân.
Lấy ví dụ như trong lĩnh vực nông nghiệp, bối cảnh kỷ nguyên số người nông dân không chỉ cần kỹ năng canh tác mà còn cần khả năng tiếp cận dữ liệu, công nghệ và phương thức sản xuất hiện đại. Đây sẽ là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của nền nông nghiệp Việt Nam trong tương lai.
Theo ông Nguyễn Đức Thuận, Chủ tịch Hội các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam, để khắc phục tình trạng “bắt tay” lỏng lẻo giữa các Nhà, cần tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm khuyến khích hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Cần có cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng giữa các bên, đặc biệt trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Đồng thời, phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, vườn ươm doanh nghiệp… làm “không gian chung” cho các chủ thể tương tác, hợp tác và cùng phát triển. Tăng cường cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ phía Nhà nước và doanh nghiệp. Nhà nước có thể đặt hàng các nhiệm vụ khoa học lớn mang tính chiến lược, trong khi doanh nghiệp đặt hàng các nghiên cứu ứng dụng cụ thể.
Ông Thuận nhấn mạnh tới việc cần xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội, trong đó doanh nghiệp là trung tâm, nhà khoa học là lực lượng nòng cốt và Nhà nước là người dẫn dắt. Cần coi khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chính của tăng trưởng, thay vì chỉ là yếu tố hỗ trợ. Điều này đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy phát triển ở cả cấp vĩ mô và vi mô.
Mặt khác, cần thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong cả ba khu vực: Nhà nước, Viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ, mà là thay đổi mô hình hoạt động, cách thức quản trị và phương thức tạo ra giá trị.
Trải qua hơn ba thập kỷ phát triển trong lĩnh vực vật tư ngành nước, Công ty cổ phần Tập đoàn DEKKO không ngừng nâng cao năng lực sản xuất, đa dạng hóa danh mục sản phẩm và đầu tư công nghệ.
Với 460 thí sinh thuộc 17 đoàn tham gia tranh tài ở 16 nghề, Hội thi Tay nghề Dầu khí lần IX - năm 2026 không chỉ góp phần nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, mà còn hướng tới chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PETROVIETNAM).
Những nữ doanh nhân trong lĩnh vực nông nghiệp đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển chuỗi giá trị nông sản, kết nối nông dân với thị trường, tạo sinh kế bền vững và thúc đẩy chuyển đổi xanh...
Nằm ở vị trí trung tâm phát triển phía Bắc với hạ tầng công nghiệp bứt phá và nguồn hàng dồi dào, vùng đồng bằng sông Hồng đang sở hữu "thời điểm vàng" để trở thành trung tâm logistics lớn của cả nước. Tuy nhiên, để "mạch máu" kinh tế này thông suốt, kéo giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh, việc nhận diện rõ rào cản và tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng là yêu cầu cấp thiết đặt ra...
Sự kết hợp giữa chính sách kiến tạo của Nhà nước, sự đồng hành từ các nền tảng công nghệ và tinh thần đổi mới sáng tạo đang tạo đà bứt phá cho thế hệ doanh nhân trẻ đưa sản phẩm Việt chinh phục thị trường toàn cầu thông qua xuất khẩu trực tuyến...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là một chiến lược dài hạn, đòi hỏi sự chuyển đổi đồng bộ từ tư duy phát triển, mô hình quản trị đến cách khai thác và sử dụng nguồn lực biển.