Sự phát triển của một quốc gia, đặc biệt trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, gắn liền mật thiết với năng lực sáng tạo và ứng dụng khoa học và công nghệ. Bộ Khoa học và Công nghệ đang định hình một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện. Hệ sinh thái này được kiến tạo để "mỗi viện nghiên cứu, mỗi doanh nghiệp, mỗi cán bộ kỹ sư đều được khuyến khích nghĩ khác, làm mới, và dám thử thách”.
Từ thực tiễn đó, nhiều tổ chức khoa học và công nghệ đã đạt được những bước tiến đáng kể. Các viện chuyên ngành như cơ khí, hóa chất, năng lượng, vật liệu, tự động hóa... đang trở thành điểm kết nối hiệu quả giữa nghiên cứu và sản xuất. Những thành tựu này đã được thương mại hóa, bao gồm công nghệ mới, giải pháp tiết kiệm năng lượng, sản phẩm xanh, vật liệu tiên tiến và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong sản xuất. Đây là những nền tảng quan trọng góp phần "hình thành nền công nghiệp Việt Nam tự chủ, xanh và thông minh hơn”.
ĐIỂM NGHẼN THỂ CHẾ LÀM LÃNG PHÍ NGUỒN LỰC
Tuy nhiên, tại tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn thể chế - Khơi thông nguồn lực phát triển khoa học, công nghệ” diễn ra ngày 22/10/2025, nhiều ý kiến cho rằng dù đã có những kết quả tích cực, chúng ta vẫn đang đối diện với “điểm nghẽn thể chế” – một cụm từ quen mà không cũ. Tiềm năng đổi mới là rất lớn, nhưng không gian để phát triển lại bị giới hạn bởi chính hành lang pháp lý chưa đủ độ mở, thiếu linh hoạt.
Các diễn giả đều đồng tình rằng chính sách dù đã được cởi mở hơn, nhưng vẫn còn tồn tại những “nút thắt” khiến quá trình chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế bị trì hoãn, làm lãng phí nguồn lực và thời gian của nhà khoa học. Các điểm nghẽn này tập trung ở các cơ chế tài chính, thủ tục phê duyệt, cơ chế đặt hàng nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm.
Đầu tiên là cơ chế tài chính. Cơ chế tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ là nút thắt được đề cập nhiều nhất. Sự thiếu linh hoạt trong việc quản lý chi tiêu và thủ tục thanh quyết toán rườm rà đang gây cản trở lớn.
Chia sẻ từ góc độ quản lý một đơn vị nghiên cứu ứng dụng, PGS.TS Vũ Nguyên Thành, Viện trưởng Viện Công nghiệp thực phẩm, cho rằng trong một thời gian dài mô hình cũng như tư duy về quản lý tài chính khoa học công nghệ, tư duy về đầu tư khoa học công nghệ của chúng ta chưa phù hợp. Mô hình mà các Viện nghiên cứu phải tự chủ về tài chính, vì tự chủ nên các viện nghiên cứu sẽ phải lo đảm bảo nguồn kinh phí cho hoạt động. Do vậy, các viện sẽ không tập trung được vào các lĩnh vực nghiên cứu có thế mạnh hoặc thực sự quan tâm.
Tiếp theo là cách đặt hàng cho nghiên cứu hiện nay theo mô hình đấu thầu cạnh tranh và các viện sẽ phải cạnh tranh các gói thầu. Điều này dẫn tới sự thiếu nhất quán trong hoạt động nghiên cứu, đơn cử như năm nay thì viện làm lĩnh vực này năm sau nếu mà thắng thầu lại làm lĩnh vực khác. Do đó, sẽ làm giảm năng lực của viện trong lĩnh vực là thế mạnh.
Hơn nữa, chúng ta rất mong muốn có sản phẩm để chuyển giao cho xã hội, cho nên nghiên cứu khoa học theo định hướng sản phẩm và trong thời gian rất ngắn. Vì sự nóng vội này nên các sản phẩm sẽ không đủ “chín”, phần lớn các sản phẩm ở trạng thái chưa hoàn thiện, không thể chuyển giao trực tiếp cho doanh nghiệp được.
Nút thắt nữa nằm ở thủ tục phê duyệt và cơ chế đặt hàng nghiên cứu. Tốc độ phát triển công nghệ là vũ bão, nhưng thủ tục phê duyệt đề tài lại kéo dài.
TS Phạm Duy Phong, Trưởng khoa Điện tử Viễn thông, Trường Đại học Điện lực đã nhấn mạnh rằng một đề tài được duyệt có thể mất một đến hai năm, trong khi công nghệ thế giới đã thay đổi. Sự chậm trễ này khiến nghiên cứu không còn tính thời sự, giảm khả năng ứng dụng thực tế.
“Nhà nước cần có giải pháp đột phá, cụ thể để đưa các sản phẩm là kết quả của nhiệm vụ khoa học công nghệ ứng dụng trong thực tiễn. Nhà nước cũng nên là “Khách hàng” lớn nhất của khoa học công nghệ; đồng thời rút ngắn thời gian đăng ký, phê duyệt, thực hiện để sớm đưa vào ứng dụng trong thực tiễn”, TS Phong nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, cần có quy định bắt buộc để đẩy mạnh liên kết 3 Nhà, Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp trong nghiên cứu, triển khai và ứng dụng vào thực tiễn. Nhà nước cần tạo môi trường thể chế thông thoáng và cơ chế tài chính linh hoạt cho Trường Đại học nghiên cứu; doanh nghiệp cần trở thành đối tác chiến lược và đồng hành cùng nhà trường trong nghiên cứu - đổi mới công nghệ; các Trường Đại học cũng phải nâng cao năng lực, chủ động đổi mới tư duy và mô hình hoạt động.
Vấn đề thương mại hóa kết quả nghiên cứu và quyền sở hữu trí tuệ là một rào cản mang tính chất dai dẳng. TS Phùng Ngọc Bộ, Trưởng Ban Kỹ thuật, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, đã đề cập đến khó khăn trong việc tiếp nhận và ứng dụng kết quả từ các viện nghiên cứu khi quyền sở hữu không rõ ràng.
Việc xác định ai là chủ sở hữu, cơ chế phân chia lợi ích giữa nhà khoa học, cơ quan chủ trì, và Nhà nước không minh bạch hoặc thiếu hấp dẫn khiến nhà khoa học thiếu động lực để đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao, kìm hãm khả năng các nghiên cứu chất lượng cao trở thành hàng hóa, dịch vụ có giá trị kinh tế.
KHƠI THÔNG DÒNG CHẢY NGUỒN LỰC VÀ SÁNG TẠO
Để vượt qua những rào cản trên, các diễn giả đều thống nhất rằng việc tháo gỡ thể chế không chỉ là hành động sửa chữa luật pháp, mà là một tuyên ngôn về niềm tin, là bước đi chiến lược quyết định thành công của quá trình đổi mới sáng tạo quốc gia.
Giải pháp cốt lõi phải nằm ở việc thay đổi triết lý quản lý tài chính và khoa học. Thay vì kiểm soát chặt chẽ từng khoản chi, Nhà nước cần trao quyền tự chủ cao hơn cho các tổ chức khoa học - công nghệ và nhà khoa học.
Đồng thời tăng cường cơ chế khoán chi. Cần chuyển đổi mạnh mẽ sang cơ chế khoán chi theo kết quả, dựa trên sản phẩm, chất lượng khoa học và khả năng ứng dụng thực tế, thay vì kiểm soát chi tiết hóa đơn đầu vào. Điều này giúp các đơn vị chủ trì, như Viện Công nghiệp thực phẩm có thể linh hoạt điều chỉnh kinh phí phát sinh trong quá trình thử nghiệm và nghiên cứu, phù hợp với bản chất của hoạt động sáng tạo.
Mặt khác, đơn giản hóa thủ tục, cần điện tử hóa, số hóa toàn bộ quy trình phê duyệt và thanh quyết toán, giảm thiểu tối đa các loại giấy tờ hành chính không cần thiết.
Để khắc phục tình trạng "nghiên cứu xong để đó" và thúc đẩy ứng dụng công nghệ, cần có các cơ chế mới như tăng cường vai trò của doanh nghiệp. Theo TS Phùng Ngọc Bộ, đảm bảo doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu định hướng nghiên cứu, cùng định hình các bài toán công nghệ sẽ tạo ra cơ chế đặt hàng nghiên cứu gắn chặt với nhu cầu thị trường, đảm bảo kết quả có ngay đầu ra ứng dụng.
Cùng với đó, luật hóa quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể, phải làm rõ ràng và minh bạch quyền sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước. Cần trao quyền sở hữu chính cho tổ chức chủ trì hoặc nhà khoa học để họ chủ động thương mại hóa. Nhà nước nên thu lợi nhuận thông qua thuế hoặc phần trăm doanh thu, thay vì giữ quyền sở hữu, làm giảm động lực chuyển giao.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu toàn hệ thống chính trị tập trung cao độ, quyết liệt triển khai các giải pháp chống khai thác IUU, thực hiện nghiêm “5 không”, quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC) trong năm 2026, gắn với phát triển ngành thủy sản bền vững...
Chuỗi triển lãm quốc tế về công nghiệp chế tạo, đóng gói và bán dẫn tại Hà Nội đặt trọng tâm vào việc thúc đẩy nội địa hóa và kết nối doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu...
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.