
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) về kinh tế Đông Á đưa ra nhận định, tình hình hỗn loạn trong ngành tài chính Mỹ gây ra sự sụt giảm sâu của các thị trường vốn, ngoài ra, tính bất ổn định và tâm lý ngại rủi ro gia tăng, đẩy chi phí vay vốn tại khu vực lên cao.
Nhiều nền kinh tế đã phải chứng kiến sự chia tay của nhiều danh mục đầu tư lớn trong nửa cuối năm ngoái, trái ngược với luồng vốn lớn chảy vào đầu năm. Nhiều ngân hàng trong khu vực đã công bố các khoản lỗ liên quan đến tài sản thế chấp dưới chuẩn, mặc dù tác động đối với lợi nhuận của cả hệ thống ngân hàng và các bản cân đối kế toán từ trước đến nay vẫn có giới hạn.
Chứng khoán sụt giảm
Giá của các tài sản vốn ở những nền kinh tế chủ chốt đã giảm trung bình 19% so với đỉnh cao tháng 10/2007. Thị trường có bước giảm sâu nhất là Trung Quốc, Hồng Kông, Philippines, Singapore và các thị trường có bước giảm nhẹ nhàng hơn là Indonesia và Thái Lan.
Yếu tố chính đằng sau sự sụt giảm của thị trường vốn là sự bất ổn định ngày càng gia tăng về viễn cảnh kinh tế toàn cầu, tâm lý ngại rủi ro ngày càng lớn và sự rút quân đáng kể các danh mục đầu tư vào thị trường vốn mới nổi của khu vực sau khi hỗn loạn tài chính Mỹ bắt đầu vào tháng 8/2007.
Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, sự sụt giảm được ước tính chính là phần tăng trưởng quá nóng và thiếu vững chắc của giai đoạn cuối 2006 đến 10/2007.
Trong một số trường hợp, chỉ số P/E đã sụt giảm từ mức cao phi thực tế. Chẳng hạn, P/E của chỉ số đầu tư vốn IFC của Trung Quốc giảm từ mức mức 43 (tháng 10/2007) xuống còn 28 (tháng 1/2008).
Các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) tại các trung tâm tài chính khu vực như Hồng Kông và Singapore đã sụt giảm mạnh. Trong 6 tuần đầu năm 2008, tổng giá trị các đợt IPO ở Singapore chỉ đạt 24 triệu USD, chưa bằng 1/11 con số của cùng kỳ năm ngoái là 283 triệu USD.
Thị trường vốn rất có ý nghĩa trong tài chính doanh nghiệp ở các nền kinh tế có thu nhập cao tại Đông Á như Hồng Kông, Hàn Quốc và Singapore. Tuy nhiên, tại các nước đang phát triển, thị trường vốn lại không có ý nghĩa to lớn, vì tại đó, nguồn vốn của doanh nghiệp được cung cấp chủ yếu từ chính nội tại doanh nghiệp và các khoản vay ngân hàng.
Việc huy động vốn nước ngoài của chính phủ các nước và những người đi vay khác cũng được mở rộng đáng kể, tăng tốc từ mức thấp xấp xỉ 140 điểm cơ bản hồi giữa năm 2007 lên xấp xỉ 270 và 320 điểm cơ bản đầu tháng 3/2008 lần lượt tại Philippines và Indonesia.
Đáng chú ý là sự tăng tốc đáng kể của Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan. Tại Indonesia, lợi tức của trái phiếu chính phủ tăng từ mức dưới 9% giữa năm 2007 lên hơn 10% đầu năm 2008.
Tuy nhiên, mức độ tăng cao này cũng thấp hơn con số lịch sử của những năm giữa thập niên này. Ngoài ra, ở khu vực tư nhân, lợi nhuận giữ lại và khoản vay của các ngân hàng vẫn là nguồn vốn quan trọng của các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển trong khu vực Đông Á.
Cần sự giám sát chặt chẽ
Khó nhận ra dấu hiệu rõ ràng là tín dụng ngân hàng trở nên đắt đỏ hay khó tiếp cận hơn. Lãi suất cho vay của ngân hàng nhìn chung vẫn theo xu hướng thấp hơn mức sàn cuối năm 2007.
Lãi suất cho vay tại Trung Quốc có xu hướng cao hơn, nhưng, một lần nữa, điều này lại phản ánh chính sách thắt chặt tiền tệ của chính phủ để chống lại mối hiểm nguy là kinh tế quá nóng và lạm phát cao. Tăng trưởng tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực tư nhân được gia tốc mạnh mẽ ở Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia và Singapore cuối năm 2007 và đầu năm 2008.
WB khuyến cáo, cán cân thanh toán của các ngân hàng Đông Á vẫn chịu tác động chưa lớn, nhưng cần được giám sát. Vai trò trung gian tài chính và các chức năng kinh tế chủ chốt khác của các ngân hàng Đông Á sẽ phụ thuộc nhiều vào chất lượng thanh khoản của họ. Những bản đánh giá đầu tiên của các chuyên gia định mức tín nhiệm và các ngân hàng đầu tư chỉ ra rằng thị trường tài chính của các nước mới nổi ở khu vực Đông Á ít chịu tác động từ các tài sản có liên quan đến tín dụng dưới chuẩn của Mỹ.
Một số định chế tài chính của những thị trường đã phát triển như Hàn Quốc, Singapore hoặc Trung Quốc chịu tác động mạnh hơn. Đó là Ngân hàng Woori ở Hàn Quốc, DBS ở Singapore, Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Công thương Trung Quốc của Trung Quốc, trong đó, Trung Quốc là cổ đông nước ngoài lớn nhất của các chứng khoán hỗ trợ bằng thế chấp, xấp xỉ 260 triệu USD, chủ yếu thông qua việc nắm giữ cổ phiếu nước ngoài của ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hầu hết các tài sản nắm giữ này được hỗ trợ bởi các cơ quan của chính phủ Mỹ như Fannie Mae và Freddie Mac.
Ở những thị trường mới nổi, các ngân hàng vẫn có thể gặp phải rủi ro là phải chịu đựng sự sụt giảm tính thanh khoản hoặc các vấn đề về huy động vốn nếu rối loạn của các thị trường tín dụng toàn cầu tiếp tục khiến các ngân hàng quốc tế phải chịu thêm những khoản lỗ lớn hơn từ các tài sản liên quan đến thế chấp.
Đánh giá sơ bộ của WB cho thấy, tác động của những xáo trộn của thị trường tín dụng Mỹ đối với tài chính của Đông Á xem ra vẫn còn được ghìm giữ trong đầu năm 2008 này. Tuy nhiên, những tác động này cần được giám sắt chặt chẽ và liên tục đánh giá lại vì xáo trộn của thị trường tín dụng còn tăng cường, lan rộng và ảnh hưởng đến các loại tài sản rộng hơn.
Tài sản của ông Liang Wenfeng, nhà sáng lập công ty khởi nghiệp AI DeepSeek, đã tăng gấp hơn hai lần sau vòng gọi vốn mới nhất của công ty, đưa doanh nhân Trung Quốc này trở thành người giàu nhất trong số các nhà sáng lập doanh nghiệp phát triển mô hình trí tuệ nhân tạo (AI)...
Các doanh nghiệp bất động sản tư nhân Trung Quốc từng tái cơ cấu nợ đang đối mặt nguy cơ thiếu hụt thanh khoản trở lại trong năm nay, khi thị trường nhà ở nước này tiếp tục suy yếu và dòng tiền ngày càng chịu sức ép...
CEO Oliver Blume của hãng xe Volkswagen đã lên tiếng xác nhận kế hoạch sa thải thêm 50.000 lao động...
Mức lợi nhuận bình quân trên mỗi xe của 7 nhà sản xuất ô tô lớn đã sụt giảm đáng kể trong năm tài chính 2025...
Nếu xét về tỷ lệ phần trăm, các nước Đông Âu có tốc độ sản sinh triệu phú nhanh nhất thế giới năm 2025...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.