Đổi mới tư duy quản lý, phát triển làng nghề bền vững
HHằng Anh
Chọn cỡ chữ
Để phát triển làng nghề bền vững cần chuyển tư duy quản lý và hỗ trợ riêng lẻ đối với từng cơ sở sản xuất sang quản lý tổng thể quá trình phát triển. Nền tảng cốt lõi theo hướng đa giá trị và hệ sinh thái ngành nghề nông thôn…
Làng làm hương Quảng Phú Cầu, Hà Nội. Ảnh minh họa (Nguồn: Báo ảnh Việt Nam)
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sau hơn 07 năm triển
khai thực hiện, Nghị định số 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn
đã tạo lập khuôn khổ pháp lý quan trọng cho công tác quản lý, bảo tồn và phát
triển ngành nghề nông thôn, nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống;
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho
người dân…
Đến năm 2024, cả nước có 586.015 cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề nông thôn, tăng hơn 262.000 cơ sở so với năm 2018; trong đó có 13.594 doanh nghiệp, 6.111 hợp tác xã, 3.163 tổ hợp tác và trên 563 nghìn hộ gia đình. Tổng số lao động tham gia lĩnh vực ngành nghề nông thôn đạt trên 2,1 triệu người; thu nhập bình quân đạt khoảng 4- 5 triệu đồng/người/tháng. Tổng doanh thu ngành nghề nông thôn đạt khoảng 376.697 tỷ đồng, tăng trên 200.000 tỷ đồng so với năm 2019. Đến nay, cả nước có 263 nghề truyền thống; 1.975 làng nghề, làng nghề truyền thống được công nhận, gồm 1.308 làng nghề và 667 làng nghề truyền thống…
NHỮNG YÊU CẦU MỚI TRONG QUẢN LÝ, PHÁT TRIỂN LÀNG
NGHỀ
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện
Nghị định số 52/2018/NĐ-CP còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế. Một số quy định không
còn phù hợp với bối cảnh phát triển mới và hệ thống pháp luật hiện hành; chưa
đáp ứng yêu cầu về phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tăng
trưởng xanh, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Trong khi đó, tư duy phát triển ngành nghề nông thôn chủ yếu
vẫn theo hướng hỗ trợ riêng lẻ từng cơ sở sản xuất, chưa hình thành được các
chuỗi ngành nghề nông thôn gắn kết giữa nguyên liệu- sản xuất- chế biến- tiêu
thụ; chưa có cơ chế phát triển nguồn cung nguyên liệu bền vững, liên vùng phục
vụ ngành nghề nông thôn.
Không những thế, chính sách hỗ trợ còn phân tán, thiếu trọng
tâm, chưa tạo động lực đủ mạnh cho đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát
triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu, chuyển đổi số và mở rộng thị trường.
Ngoài ra, việc ứng dụng khoa học công nghệ, thương mại điện tử và chuyển đổi số
trong phần lớn cơ sở sản xuất còn hạn chế.
Đáng chú ý, tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề vẫn là vấn
đề bức xúc. Nhiều làng nghề sản xuất xen lẫn trong khu dân cư; tỷ lệ làng nghề
có hệ thống xử lý môi trường tập trung còn thấp; thiếu cơ chế hỗ trợ phù hợp đối
với các mô hình xử lý môi trường quy mô cộng đồng, giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn…
Thực tiễn phát triển ngành nghề nông thôn giai đoạn hiện nay đặt ra yêu cầu phải xây dựng một khuôn khổ pháp lý mới theo hướng toàn diện, hiện đại và bền vững hơn.
Theo đó, cần bổ sung các quy định về phát triển chuỗi ngành
nghề nông thôn và nguồn cung nguyên liệu; phát triển hạ tầng làng nghề; bảo vệ
môi trường làng nghề theo hướng phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn; hỗ trợ
đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; phát triển sản phẩm, thương
hiệu và thị trường; xây dựng cơ sở dữ liệu ngành nghề nông thôn...
Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng những yêu cầu nêu
trên đòi hỏi phải xây dựng Nghị định mới thay thế Nghị định số 52/2018/NĐ-CP nhằm
tạo hành lang pháp lý đồng bộ, hiện đại, phù hợp với yêu cầu phát triển ngành
nghề nông thôn và làng nghề trong giai đoạn mới.
ĐỔI MỚI TƯ DUY QUẢN LÝ, PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN
VỮNG
Dự thảo tờ trình Nghị định về phát triển ngành nghề nông
thôn và làng nghề bền vững đang được xây dựng, lấy ý kiến, Bộ Nông nghiệp và
Môi trường cho biết Điểm đổi mới lớn nhất
của dự thảo Nghị định là chuyển từ tư duy quản lý và hỗ trợ riêng lẻ đối với từng
cơ sở sản xuất sang quản lý tổng thể quá trình phát triển ngành nghề nông thôn
và làng nghề theo hướng bền vững, đa giá trị và dựa trên hệ sinh thái ngành nghề
nông thôn.
Theo đó, dự thảo Nghị định không chỉ quy định về công nhận
và hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn như trước đây mà còn hoàn thiện đầy đủ
hơn khung quản lý nhà nước từ phân loại ngành nghề, công nhận, quản lý sau công
nhận, thu hồi danh hiệu, phát triển chuỗi ngành nghề nông thôn, tổ chức không
gian làng nghề, chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu, thống kê, giám sát đến cơ chế hỗ
trợ và tổ chức thực hiện.
Chuyển mạnh tư duy từ hỗ trợ phát triển đơn lẻ từng cơ sở sản xuất sang phát triển ngành nghề nông thôn theo chuỗi ngành nghề gắn với nguồn cung nguyên liệu, phát triển sản phẩm, thương hiệu và thị trường; phát huy giá trị đa giá trị của làng nghề gắn với văn hóa, du lịch, dịch vụ và xây dựng nông thôn mới. Bảo đảm phát triển ngành nghề nông thôn hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế với bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Đồng thời, dự thảo sửa đổi, hoàn thiện các quy định về phân
nhóm ngành nghề nông thôn; tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận nghề truyền thống,
làng nghề, làng nghề truyền thống; cơ chế quản lý sau công nhận; nguyên tắc và
cơ chế thực hiện chính sách hỗ trợ; trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ,
ngành và địa phương theo hướng phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp,
yêu cầu phân cấp, phân quyền và chức năng, nhiệm vụ hiện hành của các cơ quan,
đơn vị.
Dự thảo Nghị định cũng bổ sung nhiều nội dung mới nhằm đáp ứng
yêu cầu phát triển ngành nghề nông thôn trong giai đoạn hiện nay.
Theo đó, bổ sung các khái niệm mới như: làng nghề trong khu
vực đô thị; phát triển làng nghề bền vững; chuỗi ngành nghề nông thôn; nghệ
nhân ngành nghề nông thôn; sản phẩm sáng tạo; sản phẩm ngành nghề nông thôn
xanh; hạ tầng số dùng chung phục vụ ngành nghề nông thôn, làng nghề và một số
khái niệm có liên quan khác.
Bổ sung các quy định về phát triển chuỗi ngành nghề nông
thôn và nguồn cung nguyên liệu nhằm thúc đẩy liên kết giữa nghệ nhân, hộ sản xuất,
hợp tác xã, doanh nghiệp và các chủ thể liên quan; phát triển nguồn nguyên liệu
bản địa, nguyên liệu thân thiện với môi trường và nâng cao giá trị gia tăng cho
sản phẩm ngành nghề nông thôn.
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung quy định về chuyển đổi số, cơ sở
dữ liệu và giám sát phát triển ngành nghề nông thôn; lần đầu tiên quy định về
xây dựng cơ sở dữ liệu ngành nghề nông thôn, bản đồ số làng nghề, số hóa thông
tin và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, sản xuất và phát triển thị trường.
Bên cạnh đó, bổ sung các chính sách hỗ trợ về đổi mới sáng tạo,
phát triển sản phẩm và thương hiệu; phát triển thị trường, thương mại điện tử;
phát triển nguồn cung nguyên liệu; chuyển đổi số; bảo vệ môi trường theo hướng
giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn; phát triển làng nghề xanh, tuần hoàn và bền vững…
Phát triển vùng nguyên liệu bền vững, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ và khai thác thị trường tín chỉ carbon, đang được xem là những giải pháp then chốt giúp ngành gỗ Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, người trồng rừng và hoàn thiện nền tảng khoa học cho phát triển vùng nguyên liệu...
Trong tiến trình chuyển từ xây dựng chính sách thị trường carbon sang vận hành thực tế, những yêu cầu về minh bạch, năng lực thực thi và niềm tin thị trường đang trở thành rào cản không nhỏ…
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.
Nghị định 112/2026/NĐ-CP về chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon quy định, đồng thời ba khuôn khổ trao đổi giúp Việt Nam tham gia linh hoạt vào nhiều hình thức hợp tác, đồng thời bảo đảm hoạt động trao đổi quốc tế được quản lý thống nhất và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia...
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về trao đổi tín chỉ carbon mang ý nghĩa quan trọng, thiết thực. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện môi trường hay ứng phó biến đổi khí hậu, mà là vấn đề cốt lõi của hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực tài chính xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.
Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) kết hợp với mạng lưới đường sắt đô thị (metro) là chiến lược cốt lõi để giải quyết ùn tắc và tái cấu trúc không gian. Mô hình này tập...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...