
Theo kết quả mà Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (Jetro) vừa công bố về cuộc điều tra hàng năm hoạt động của các công ty Nhật Bản ở nước ngoài, thì so với cuộc điều tra năm 2005, các công ty Nhật Bản ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc mở rộng hoạt động kinh doanh ở Việt Nam và Ấn Độ.
Đây là năm thứ hai liên tiếp các công ty Nhật Bản mong muốn mở rộng bán hàng ở Việt Nam và Ấn Độ.
Đối với Việt Nam, việc sản xuất các sản phẩm từ thấp đến trung cấp tăng 3,2 điểm đạt 8,4%, chỉ xếp sau Trung Quốc và Thái Lan. Bên cạnh đó, doanh nghiệp Nhật cũng đánh giá cao những tiến bộ cho Việt Nam, như chức năng bán hàng và kinh doanh tăng 2,3 điểm và sản xuất các sản phẩm cao cấp tăng 1,7 điểm.
Ấn Độ đứng thứ 5 cả về chức năng bán hàng (tăng 2,3 điểm đạt 15,5%) và sản xuất các sản phẩm thấp đến trung cấp (tăng 3,4 điểm đạt 5,7%).
Trong đó, việc mở rộng sản xuất các sản phẩm sắt thép, kim loại, thực phẩm và đồ giải khát tại Việt Nam được các công ty Nhật Bản quan tâm hơn cả, còn các công ty trong ngành ôtô, phụ tùng ôtô, các máy móc vận tải khác, lại quan tâm đến Ấn Độ.
“Điều này thể hiện tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và thị trường phát triển ở 2 quốc gia này”, Jetro nhận xét. “Chiến lược “Trung Quốc 1” (tức là đầu tư ở Trung Quốc và một nước, khu vực khác nhằm giảm việc phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc) có lẽ giải thích cho việc các chỉ số của Việt Nam được cải thiện hơn trong điều tra này”.
Trong cuộc gặp gỡ với báo giới mới đây, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam, ông Norio Hattori cũng đã nhận định: “Việt Nam là thị trường hấp dẫn nhất với các nhà đầu tư Nhật”.
Nhưng kết quả của cuộc điều tra cũng cho thấy có những rủi ro xuất phát từ cơ sở hạ tầng kém phát triển của doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Ấn Độ và Việt Nam, và một tỷ lệ khá lớn các công ty cũng lo ngại về các ngành công nghiệp phụ trợ kém hoặc không phát triển tại 2 quốc gia này.
Tuy nhiên, trong khi nêu ra những khó khăn trong thời gian tới, chủ yếu do cơ sở hạ tầng kém phát triển hoặc phát triển chưa đầy đủ, đặc biệt là các vấn đề về điện và hậu cần, các doanh nghiệp Nhật vẫn tỏ ra quan tâm hơn tới Việt Nam và Ấn Độ.
Một điểm đáng chú ý của báo cáo là khi được hỏi về việc mở rộng kinh doanh ở nước ngoài, 65,4% các công ty Nhật Bản trả lời có kế hoạch mở rộng trong khoảng 3 năm tới (gần bằng tỷ lệ 65,6% năm ngoái).
Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Dù kim ngạch xuất khẩu cao, cà phê Robusta Việt Nam vẫn chủ yếu được biết đến như nguồn nguyên liệu cho các nhà rang xay quốc tế. Để thoát vai “làm nền”, ngành cà phê cần thu hẹp khoảng trống về thương hiệu, nâng cao giá trị chế biến và tăng cường liên kết trong chuỗi cung ứng…
Với tỷ trọng xuất khẩu qua thương mại điện tử năm 2025 mới chỉ đạt 0,48% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, dư địa phát triển xuất khẩu qua kênh này còn rất lớn. Nhưng nghịch lý, số doanh nghiệp đầu tư bài bản cho xuất khẩu xuyên biên giới rất ít, còn thiếu tự tin…
Việc Malaysia công nhận 5 tổ chức, doanh nghiệp cấp chứng nhận Halal của Việt Nam mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa trong nước tiếp cận thị trường này, đồng thời thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng Hồi giáo toàn cầu...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.