
Vẫn còn ít nhà sản xuất phụ tùng linh kiện của Việt Nam có thể đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng của doanh nghiệp Nhật.
Đánh giá về sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam hiện nay, ông Mitsuo Sakaba - Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam, nói:
- Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam là đề tài mà tôi thường xuyên quan tâm kể từ một năm trước, khi tôi đến Việt Nam với tư cách là đại sứ.
Một vài tuần trước khi rời Tokyo, tôi đã được biết ngành công nghiệp sản xuất phụ tùng linh kiện vẫn chưa phát triển tại Việt Nam, và điều này đang là trở ngại lớn đối với các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động ở lĩnh vực công nghiệp chế tạo.
Thực tế, cuối tháng 2/2008, tôi đã đi thị sát một số doanh nghiệp Nhật Bản tiêu biểu tại Việt Nam và tôi đã nhận ra rằng nhiều loại phụ tùng, linh kiện vẫn phải nhập từ Nhật Bản và các nước Đông Nam Á lân cận. Vì thế mà chi phí sản xuất tăng lên, năng lực cạnh tranh so với sản phẩm cùng loại được sản xuất ở nước khác chắc chắn sẽ thấp đi.
Vẫn còn ít nhà sản xuất phụ tùng linh kiện của Việt Nam có thể đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng cao của các doanh nghiệp Nhật Bản.
Tôi nghĩ rằng, ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam chưa đủ tin cậy, nhưng trong những năm gần đây, các nhà sản xuất phụ tùng từ Nhật Bản và châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc... đang dần từng bước tiến vào Việt Nam.
Nhờ đó đã dần đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp lắp ráp, các nhà sản xuất phụ tùng linh kiện của Việt Nam tuy chậm nhưng cũng đang dần từng bước phát triển.
Vậy mấu chốt của vấn đề thúc đẩy phát triển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam là gì, thưa ông? Phía Nhật Bản có hỗ trợ gì để góp phần phát triển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam?
Tôi xin được khuyến cáo với các cơ quan bộ, ngành có liên quan của Chính phủ Việt Nam về vấn đề của ngành công nghiệp phụ trợ rằng vận mệnh của ngành công nghiệp Việt Nam sẽ ảnh hưởng đến tương lai phát triển kinh tế của đất nước, và vấn đề này không đơn giản chỉ ảnh hưởng đến quan hệ đầu tư thương mại và chính sách ODA trong tương lai giữa Nhật Bản và Việt Nam, mà còn ảnh hưởng đến địa vị chính trị của khu vực Đông Nam Á.
Từ tháng 7/2007, Việt Nam đã có quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp phụ trợ do Bộ Công Thương chủ trì. Về phương hướng, chủ trương chính của quy hoạch là đúng hướng, nhưng vấn đề là văn bản này được phản ánh như trong chính sách cụ thể của các bộ, ngành như thế nào và được đưa vào thực hiện một cách có tổ chức trong toàn bộ chính phủ không.
Tóm lại, vẫn chưa có kế hoạch hành động cụ thể nói rõ khi nào, ai, làm gì và như thế nào? Tôi có ấn tượng là về tổng thể thì có, nhưng về chi tiết thì chưa có.
Vì vậy, một mặt tôi đã đề xuất việc Chính phủ Việt Nam cần nhanh chóng lập kế hoạch hành động để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, đồng thời bàn bạc với hiệp hội các doanh nghiệp Nhật Bản, các chuyên gia của JICA về nội dung cần phải có của kế hoạch này.
Song song với các hoạt động này, sáng kiến chung Nhật - Việt giai đoạn 3 đã chính thức được triển khai từ tháng 11/2008, trong đó có nội dung liên quan đến ngành công nghiệp phụ trợ.
Và khi đàm phán về hiệp định EPA giữa hai chính phủ, liên quan đến khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cũng được đưa ra và lễ ký kết hiệp định đã được tổ chức vào tháng 12/2008. Có được những bước tiến này rồi, cần nhanh chóng thực hiện "Kế hoạch hành động".
Hiện nay, hai bên đang xúc tiến thành lập các ban chỉ đạo theo từng chủ đề quan trọng. Các nhóm công tác Nhật Việt sẽ tiến hành chốt lại nội dung của kế hoạch hành động.
Khoảng cuối tháng 3/2008 sẽ bắt đầu các công việc cụ thể, hai bên sẽ thảo luận và nhanh chóng hoàn tất vấn đề "ai, cho đến khi nào, làm gì và như thế nào" để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ.
Theo quan điểm của cá nhân ông, kế hoạch hành động nên tập trung vào những nội dung chủ chốt nào?
Theo tôi, trong kế hoạch nên đưa vào 3 mục quan trọng. Trước hết là về việc phát triển nhân lực, việc đào tạo cơ bản về "monozukuri - liên kết sản xuất", chứ không chỉ dạy lý thuyết cho sinh viên của trường đại học công nghiệp là rất quan trọng.
Do đó, cần điều chỉnh chế độ đào tạo thực hành ở xưởng sản xuất thực tế, hay nói cách khác, đó là nghiên cứu về việc xây dựng cơ chế "Hợp tác đào tạo giữa trường đại học và doanh nghiệp".
Thứ hai là hướng dẫn tại xưởng làm việc để nâng cao trình độ kỹ thuật của ngành công nghiệp phụ tùng của Việt Nam. Đặc biệt, về chất lượng - chi phí - thời gian giao hàng, mức độ mà doanh nghiệp Nhật Bản yêu cầu và nhận thức của phía doanh nghiệp Việt Nam vẫn có khoảng cách lớn và cần phải nỗ lực để lấp đi khoảng cách đó.
Thứ ba là vấn đề tài chính cho ngành công nghiệp phụ trợ. Tôi có nghe nói rằng, nếu là doanh nghiệp sản xuất phụ tùng quy mô nhỏ, thì dù có muốn đầu tư trang thiết bị thì cũng khó được ngân hàng cho vay vốn.
Thực tế, ngành công nghiệp phụ trợ là kinh doanh kiểu tập trung vốn, việc trang bị thiết bị máy móc mới nhất là điều kiện tiền đề để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao. Còn đối với ngân hàng, khi xem xét việc cho vay tiền, nếu doanh nghiệp trong tình trạng bị đánh giá là có nguy cơ không thể lấy lại tiền cao thì việc họ quyết định không cho vay là đương nhiên.




Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Dù kim ngạch xuất khẩu cao, cà phê Robusta Việt Nam vẫn chủ yếu được biết đến như nguồn nguyên liệu cho các nhà rang xay quốc tế. Để thoát vai “làm nền”, ngành cà phê cần thu hẹp khoảng trống về thương hiệu, nâng cao giá trị chế biến và tăng cường liên kết trong chuỗi cung ứng…
Với tỷ trọng xuất khẩu qua thương mại điện tử năm 2025 mới chỉ đạt 0,48% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, dư địa phát triển xuất khẩu qua kênh này còn rất lớn. Nhưng nghịch lý, số doanh nghiệp đầu tư bài bản cho xuất khẩu xuyên biên giới rất ít, còn thiếu tự tin…
Việc Malaysia công nhận 5 tổ chức, doanh nghiệp cấp chứng nhận Halal của Việt Nam mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa trong nước tiếp cận thị trường này, đồng thời thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng Hồi giáo toàn cầu...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.