Chiều 16/5, Quốc hội thảo luận tại Tổ về: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Nội quy kỳ họp Quốc hội ban hành kèm theo Nghị quyết số 71/2022/QH15 của Quốc hội.
Thảo luận góp ý tại tổ, đại biểu Nguyễn Thị Xuân, đoàn Đắk Lắk, thống nhất với sự cần thiết phải sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính trước yêu cầu công tác quản lý nhà nước trong bối cảnh hiện nay.
Góp ý về vấn đề mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước về an ninh trật tự quy định tại Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính hiện nay, đại biểu Xuân cho biết qua 14 năm thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính còn một số bất cập, trong đó vấn đề bất cập nhất hiện nay liên quan đến mức phạt tiền.
“Trong một số quy định, đặc biệt là trong lĩnh vực giao thông đường bộ, mức phạt tiền tối đa theo luật hiện hành còn thấp, chỉ 75 triệu đồng", bà Xuân nói.
Tình trạng "nhờn" luật hay cố tình vi phạm luật trên lĩnh vực trật tự an toàn giao thông vẫn diễn ra ở một bộ phận không nhỏ người tham gia giao thông. Nêu thực tế này, đại biểu cho rằng mức phạt tiền của Luật hiện hành, kể cả Nghị định 168 "chưa đủ mạnh để tạo sức răn đe".
Đặc biệt, đối với những trường hợp vi phạm với tính chất, mức độ nghiêm trọng hoặc cố tình vi phạm. Chẳng hạn, qua các phương tiện thông tin truyền thông phản ánh nhiều trường hợp lái xe cố tình đi ngược chiều trên đường cao tốc…
Do đó, đại biểu đoàn Đắk Lắk đề nghị điều chỉnh cần tăng mức phạt tiền tối đa ở những lĩnh vực liên quan đến an ninh trật tự.
Đối với lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, nữ đại biểu đề xuất tăng mức phạt từ 75 triệu đồng lên đến 200 triệu đồng. “Có như vậy mới giải quyết được bài toán tăng sức răn đe". Tuy nhiên, bà Xuân cho rằng bên cạnh tăng mức phạt tiền cũng cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức của người tham gia giao thông. Đây là một trong những biện pháp mang tính bền vững.
Đối với lĩnh vực dữ liệu, hiện Quốc hội đang cho ý kiến về dự án Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, trong đó quy định mức phạt tiền tối đa là 200 triệu đồng.
Trước yêu cầu về quản lý Nhà nước trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với quy mô và tốc độ cao, dữ liệu đã được xác định trở thành một nguồn tài nguyên mới của đất nước và là tư liệu sản xuất quan trọng, là động lực phát triển mới của các quốc gia. Do đó, việc kết nối, khai thác, chia sẻ và sử dụng dữ liệu trái quy định sẽ mang đến những ảnh hưởng xấu, tác động tiêu cực đến tất cả các lĩnh vực, kể cả chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, và tác động đến quyền con người, quyền công dân.
Cho rằng nếu chỉ quy định mức phạt tiền tối đa ở mức 200 triệu đồng, cũng chưa đủ mạnh, đại biểu đề xuất có thể tăng mức phạt tiền tối đa đối với lĩnh vực dữ liệu lên khoảng 500 triệu đồng để bảo đảm tính răn đe đủ mạnh đối với các hành vi vi phạm pháp luật về dữ liệu.
Đối với lĩnh vực an ninh mạng, an toàn thông tin mạng, đại biểu cũng đề nghị tăng mức xử phạt vi phạm lên đến 200-250 triệu đồng.
Đối với lĩnh vực khoáng sản, tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường, theo đại biểu hiện nay mức phạt tiền tối đa với các hành vi vi phạm cũng chưa đủ sức răn đe (kể cả với cá nhân và tổ chức). Do đó, bà Xuân đề nghị có thể tăng lên tới 2 tỷ đồng. Theo bà, như vậy mới tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực khai thác khoáng sản, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Tham gia góp ý tại phiên thảo luận, đại biểu Lê Đào An Xuân (Đoàn Phú Yên) dẫn khoản 1 Điều 56 theo hướng tăng giới hạn mức phạt tiền tối đa được thực hiện thủ tục xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản (tăng 4 lần, từ 250.000 đồng lên 1.000.000 đồng đối với cá nhân; từ 500.000 đồng lên 2.000.000 đồng đối với tổ chức).
Đối với Khoản 7 Điều 1 dự thảo luật sửa đổi bổ sung Điều 56 của Luật Xử lý vi phạm hành chính về xử phạt không lập biên bản, đại biểu cho rằng trong các hành vi vi phạm pháp luật nếu đã được phát hiện bằng các phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ thì các chứng cứ đã cơ bản rõ ràng nên không nhất thiết phải lập biên bản.
Do đó, “cần chỉnh lý theo hướng: trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện bằng phương tiện thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ mà hành vi vi phạm hành chính có quy định hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc quy định mức tối đa khung tiền phạt đối với hành vi đó đến 1 triệu đồng với cá nhân và đến 2 triệu đồng với tổ chức thì được xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản”, đại biểu đề nghị.
Tham gia góp ý về nội dung này, đại biểu Lê Đào An Xuân, đoàn Phú Yên, dẫn khoản 1 Điều 56 theo hướng tăng giới hạn mức phạt tiền tối đa được thực hiện thủ tục xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản (tăng 4 lần, từ 250.000 đồng lên 1.000.000 đồng đối với cá nhân; từ 500.000 đồng lên 2.000.000 đồng đối với tổ chức).
Theo đại biểu đoàn Phú Yên, "việc lập biên bản có ý nghĩa quan trọng là căn cứ để xác nhận hành vi vi phạm của người vi phạm và ghi nhận các tình tiết của vụ việc vi phạm. Do đó, việc xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản chỉ nên áp dụng đối với những vi phạm giản đơn, lỗi vi phạm nhẹ".
Bên cạnh đó, đại biểu cho rằng cần cân nhắc các vấn đề về điều kiện kinh tế- xã hội, bảo đảm yêu cầu ngăn ngừa tiêu cực, sai phạm trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính để đưa ra hạn mức phạt tiền tối đa được thực hiện thủ tục xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản. Vì vậy, đơn vị chủ trì soạn thảo nghiên cứu kỹ lưỡng đối với quy định này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.




Các đại biểu cho rằng cần cụ thể hóa tiêu chí xác định cấp độ rủi ro trên cơ sở tính chất, mức độ quan trọng của dữ liệu, để bảo đảm tính khoa học, thống nhất và khả thi trong thực tiễn. Mục tiêu không chỉ là giảm số lượng thủ tục hành chính, mà phải giảm thực chất nghĩa vụ tuân thủ trùng lặp, kết hợp giữa tiền kiểm, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình...
Đóng góp ý kiến vào dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung quy định bảo đảm quyền tự chủ, kiểm soát danh tính điện tử của người dân, đồng thời giới hạn việc thu thập dữ liệu cá nhân và sinh trắc học ở mức tối thiểu cần thiết cho từng giao dịch có mục đích hợp pháp…
Việt Nam và Ba Lan chính thức thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, thông qua Kế hoạch hành động giai đoạn 2026–2030, với mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương đạt 6 tỷ USD vào năm 2030; mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, đầu tư, khoa học – công nghệ và chuyển đổi xanh.
Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk, hai nước nhất trí thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược, thông qua Kế hoạch hành động giai đoạn 2026-2030, đồng thời đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 6 tỷ USD vào năm 2030.
Việt Nam và Ba Lan xác định kinh tế, thương mại và đầu tư là những trụ cột trong quan hệ Đối tác chiến lược vừa được thiết lập; nhất trí tăng cường hợp tác khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và triển khai Kế hoạch hành động chung giai đoạn 2026–2030.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.