
Thêm một lần, đánh giá về nguyên nhân lạm phát cao của Chính phủ lại được cho là chưa thuyết phục.
Báo cáo bổ sung tình hình kinh tế, xã hội 2011 tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng 20/4, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh nêu một trong các hạn chế, yếu kém là "kinh tế vĩ mô chưa ổn định, lạm phát tuy có giảm vào những tháng cuối năm nhưng vẫn ở mức cao so với kế hoạch đề ra".
Chính phủ lý giải, chỉ số lạm phát ở Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước có nguyên nhân sâu xa là cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng chưa hợp lý, chậm được điều chỉnh và hiệu quả nền kinh tế thấp, trong đó cơ cấu đầu tư, nhất là đầu tư công lớn, nhưng dàn trải, hiệu quả thấp.
Nguyên nhân trực tiếp chủ yếu là do nhiều năm qua nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khóa để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, đảm bảo an sinh xã hội.
Giai đoạn 2006 - 2010 tăng trưởng tín dụng bình quân 33%/năm, tổng phương tiện thanh toán tăng 30,2%/năm. Về chính sách tài khóa, ngoài việc duy trì bội chi ngân sách nhà nước ở mức 5% GDP trong nhiều năm (riêng năm 2009 lên đến 6,9% để chống suy giảm, phục hồi tăng trưởng), còn phát hành trái phiếu Chính phủ với số vốn lớn.
Cùng với việc phải điều chỉnh giá một số mặt hàng thiết yếu theo thị trường, Việt Nam phải nhập siêu nên đã "nhập khẩu” lạm phát khi giá thế giới tăng cao, ngoài ra yếu tố tâm lý cũng tác động lớn đến lạm phát, Chính phủ gói lại nguyên nhân.
Ở báo cáo thẩm tra sơ bộ, Ủy ban Kinh tế đã dẫn một số ý kiến cho rằng, lạm phát rất cao, tác động lớn đến sản xuất và đời sống, nhưng báo cáo của Chính phủ chưa đánh giá đủ liều lượng, chưa phân tích sâu sát tình hình.
Chính phủ nêu nguyên nhân là do cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng chưa hợp lý, do nới lỏng chính sách tài khóa, tiền tệ trong nhiều năm, nhưng trong vài năm qua, vẫn với các nguyên nhân này mà lạm phát không ổn định, có năm rất cao, có năm lại thấp, cơ quan thẩm tra nêu ý kiến phản biện.
Vẫn liên quan đến hạn chế yếu kém của năm 2011, bên cạnh lạm phát, cơ quan thẩm tra còn chỉ ra: lãi suất tín dụng tuy có giảm nhưng còn ở mức cao, nợ xấu của hệ thống ngân hàng có xu hướng tăng lên; thanh khoản ở một số ngân hàng thương mại gặp khó khăn; áp lực với tỷ giá còn lớn; thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản giảm sút nghiêm trọng…
Chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư tuy có giảm so với giai đoạn 2007 - 2009 nhưng vẫn ở mức cao (32,36% so với GDP), là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài và làm giảm khả năng và tính chủ động trong điều hành nền kinh tế, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu nhấn mạnh.
Nêu thực tế 53.792 doanh nghiệp phải phá sản, giải thể hoặc ngừng hoạt động, tăng 24,7% so với năm 2010, ý kiến tại cơ quan thẩm tra cho rằng, Chính phủ cần có đánh giá toàn diện và sâu sắc hơn các hỗ trợ của Nhà nước về thuế, tài chính đã được thực hiện trong năm 2011 về mức độ, liều lượng, thời điểm áp dụng, vì mặc dù đã có chính sách, nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn,
Tại kỳ họp thứ ba được khai mạc vào ngày 21/5 tới đây, báo cáo bổ sung của Chính phủ sẽ được trình Quốc hội thảo luận, và báo cáo thẩm tra cũng được trình Quốc hội ngay từ ngày đầu tiên của kỳ họp.
Liên tục nhiều kỳ họp Quốc hội gần đây,
lạm phát luôn là tâm điểm của các phiên thảo luận về tình hình kinh tế xã hội
. Và cũng không ít ý kiến đề nghị Chính phủ cần tổng kết, đánh giá kỹ hơn về lạm phát, nhất là các nguyên nhân chủ quan trong điều hành.
Kỳ này, hầu hết các ý kiến tại cơ quan thẩm tra cũng đề nghị cần đánh giá cụ thể về từng chỉ tiêu đạt, không đạt
(trong đó có lạm phát - PV)
nguyên nhân không đạt theo kế hoạch đề ra, nhất là các nguyên nhân chủ quan, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho biết.
Ủy ban Kinh tế cũng đề nghị tiếp tục kiên định với mục tiêu ưu tiên hàng đầu là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Điều hành chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt, phối hợp hài hòa giữa chính sách tài khóa và tiền tệ để kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng tăng dưới 10%, một mặt tăng cường ổn định vĩ mô, mặt khác duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý.
Phần thảo luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về các báo cáo của Chính phủ sẽ được tiến hành cuối buổi sáng và cả buổi chiều hôm nay.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phát triển công nghiệp hàng hải theo tư duy hệ sinh thái, có trọng tâm, nâng cao năng lực tự chủ; không bao cấp trở lại, không đầu tư dàn trải và không để mất năng lực chiến lược.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Phú Thọ duy trì tăng trưởng trên 11%, giải ngân vốn đầu tư công, phát triển công nghiệp công nghệ cao và xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng trong năm.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Lào Cai đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế biên mậu, logistics, đẩy nhanh đầu tư công, tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và tạo đột phá về chuyển đổi số.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.