Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 đã có các quy định cụ thể về kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường đối với khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề. Theo đó, đã cụ thể hóa các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường và trách nhiệm của Ban quản lý Khu công nghiệp, cơ quan quản lý Cụm công nghiệp, chính quyền địa phương và trách nhiệm của chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng cũng như các đơn vị thứ cấp trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở, hộ sản xuất trong làng nghề.
Thực hiện quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các Bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương tăng cường và thường xuyên tổ chức thực hiện công tác kiểm soát, giám sát chặt chẽ các nguồn ô nhiễm lớn trong đó tập trung đối với các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề.
Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành luật Bảo vệ môi trường 2020 (2020-2025) cho biết tính đến hết năm 2025, có 324 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động trong đó có 309/324 khu công nghiệp đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung (chiếm tỷ lệ 95,37%), vượt chỉ tiêu kế hoạch Quốc hội giao. Toàn bộ 100% trong số đó lắp đặt hệ thống quan trắc tự động truyền dữ liệu về cơ quan quản lý.
Đối với các khu công nghiệp còn lại, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong khu đã tự đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt QCVN trước khi xả ra môi trường.
Đối với cụm công nghiệp, tỷ lệ có hệ thống xử lý nước thải tăng từ 8,9% (năm 2016) lên 34,7% (năm 2025) với 251/723 cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đi vào hoạt động.
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu chức năng trong khu kinh tế đang hoạt động nhìn chung tuân thủ quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, tuân thủ các quy định về đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường như hệ thống thoát nước mưa, hệ thống xử lý nước thải tập trung, hệ thống quan trắc nước thải tự động...
Qua đó, đã góp phần hạn chế việc phân tán cơ sở sản xuất, thực hiện tập trung cơ sở sản xuất công nghiệp, di dời cơ sở sản xuất có nguy cơ ô nhiễm từ nội đô, làng nghề vào trong khu công nghiệp, khu chức năng trong khu kinh tế.
Việc các cơ sở sản xuất được tập trung bên trong khu công nghiệp, khu chức năng trong khu kinh tế làm cho công tác bảo vệ môi trường được kiểm soát chặt chẽ hơn so với doanh nghiệp nằm bên ngoài, đặc biệt là công tác xử lý nước thải, chất thải rắn.
Đối với khắc phục ô nhiễm làng nghề, thống kê có 31/47 làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc danh mục đã triển khai các hoạt động khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường. Trong đó, có nhiều làng nghề đã hoàn thành các biện pháp khắc phục ô nhiễm hoặc tự thu hẹp quy mô, chuyển đổi ngành nghề sản xuất, chấm dứt hoạt động và về cơ bản không còn ô nhiễm. Còn lại 16/47 làng nghề đang triển khai các biện pháp khắc phục ô nhiễm.
Trước tình trạng một số cụm làng nghề, đặc biệt là làng nghề tái chế còn gây ô nhiễm môi trường nước, không khí do phần lớn các cơ sở sản xuất hoạt động theo quy mô hộ gia đình, sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu, không đầu tư các biện pháp xử lý bụi, khí thải phát sinh; nước thải tại các cụm công nghiệp, làng nghề hầu hết đều không được thu gom và xử lý, Chính phủ đã chỉ đạo UBND các tỉnh vào cuộc quyết liệt với sự tham gia của cả hệ thống chính trị để xử lý các vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, cụm công nghiệp trên.
Qua đó đã bước đầu tạo ra sự chuyển biến tích cực. Điển hình là tỉnh Bắc Ninh đã dừng hoạt động sản xuất tại làng nghề Phong Khê (thành phố Bắc Ninh cũ) và Mẫn Xá (Văn Môn, Yên Phong cũ), các nguồn phát thải bị ngăn chặn triệt để, chất lượng môi trường tại 2 làng nghề đã có những chuyển biến rõ nét.
Với chất thải rắn công nghiệp thông thường, tỷ lệ thu gom, xử lý tiếp tục đạt mức khá cao, đạt trên 90%. Đối với một số loại chất thải rắn đặc thù như tro xỉ, thạch cao, việc đảm bảo yêu cầu môi trường khi thực hiện tái chế đã được quan tâm triển khai.
Liên quan đến quản lý chất thải, tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên cả nước khoảng 72.341 tấn/ngày (trong đó khu vực đô thị phát sinh khoảng 39.194 tấn/ngày và khu vực nông thôn khoảng 33.147 tấn/ngày).
Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý tại đô thị trung bình khoảng 97,59% (tăng 0,33% so với năm 2024), vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra (95%); tại khu vực nông thôn trung bình khoảng 84,14% (tăng 3,64% so với năm 2024). Tổng lượng rác thải từ khách du lịch khoảng 690.000 tấn (tăng 130.000 tấn so với năm 2024); trung bình 1,2 kg/ngày đêm/người.




Dự thảo luật phân loại dự án theo mức độ rủi ro (thu gọn lại còn 3 nhóm) và mở rộng một số trường hợp không phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra nhấn mạnh rằng việc cắt giảm thủ tục phải đi cùng với phân loại rủi ro chính xác, định lượng các yếu tố nhạy cảm và hậu kiểm hiệu quả...
Chính quyền Tổng thống Donald Trump đang tìm cách xem xét lại giấy phép của một dự án điện gió ngoài khơi tại bang Massachusetts, đánh dấu dự án thứ tư bị nhắm tới trong những tháng gần đây. Động thái này làm dấy lên lo ngại về nguy cơ gia tăng bất ổn đối với các dự án năng lượng và phá vỡ nỗ lực cải cách quy trình cấp phép tại Mỹ…
Để xử lý lượng tro bay từ các nhà máy điện rác, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết trong giai đoạn trước mắt vẫn được chôn lấp nhưng về lâu dài, thành phố định hướng chuyển từ chôn lấp sang tái chế, tận dụng tro bay làm nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng. Chậm nhất sau 2 năm thực hiện phương án chôn lấp, các nhà máy phải đưa ra giải pháp kỹ thuật xử lý tro bay...
Từ tái thiết nhà ở, phát triển hạ tầng năng lượng tại Thổ Nhĩ Kỳ đến xây dựng thành phố mới New Tashkent ở Uzbekistan, các nhà quy hoạch đang tìm cách giúp đô thị tăng khả năng chống chịu trước nắng nóng, hạn hán và những sức ép môi trường ngày càng lớn…
Đà Nẵng đang ưu tiên định hướng nguồn viện trợ vào các dự án kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời tăng cường tiếp nhận công nghệ xanh và đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, doanh nghiệp nhỏ và vừa...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Các loại hình nhà ở người nước ngoài có thể tiếp cận; điều kiện giao dịch và hạn mức sở hữu tại từng dự án; những trở ngại khi mua, thuê hoặc bố trí chỗ ở cho chuyên gia… cùng những giải pháp tháo gỡ đã được đưa ra bàn thảo công khai.