Sáng sớm, trong khu trồng dược liệu của Hợp tác xã Nông dược sống hạnh phúc ở xã Cẩm Thạch, những luống xạ đen, cà gai leo, giảo cổ lam nối nhau trải dài. Giữa màu xanh của núi rừng, chị Phạm Thị Hậu, Giám đốc Hợp tác xã cẩn thận kiểm tra từng gốc cây, nhặt bỏ những chiếc lá úa, dựng lại những cành bị gió quật nghiêng sau trận mưa đêm.
Những công việc tưởng như giản dị ấy lại là một phần trong hành trình của người phụ nữ dân tộc Mường quyết định rời công việc ổn định nơi phố thị để trở về quê, tìm cách nâng giá trị những cây thuốc vốn quen thuộc với người dân miền núi.
Từ nhỏ, chị Hậu đã quen với những nắm lá thuốc được người thân hái trong vườn, ngoài nương về sử dụng. Với người Mường ở vùng núi phía Tây Thanh Hóa, cây thuốc không chỉ là một loại cây mà còn gắn với đời sống và những tri thức dân gian được truyền qua nhiều thế hệ.
Thế nhưng, cùng với sự thay đổi của cuộc sống, nhiều loại cây thuốc dần ít được quan tâm. Trong khi đó, thương lái vẫn tìm về các bản thu mua nguyên liệu thô với giá thấp. Những loại cây từng được người dân sử dụng hằng ngày lại chưa tạo ra được nhiều giá trị kinh tế.
Mỗi lần trở về quê, ngồi bên ấm nước lá mẹ nấu, câu hỏi ấy càng thôi thúc chị Hậu: Tại sao những cây thuốc ngay trên quê hương mình lại chỉ được bán dưới dạng nguyên liệu, trong khi hoàn toàn có thể chế biến thành những sản phẩm có giá trị cao hơn?
Năm 2024, chị cùng 7 người trẻ có chung khát vọng khởi nghiệp thành lập Hợp tác xã Nông dược sống hạnh phúc.
Những ngày đầu, con đường phía trước không hề bằng phẳng. Vốn ít, nhân lực hạn chế, kinh nghiệm quản lý chưa nhiều, thị trường lại chưa biết đến sản phẩm khiến các thành viên phải tự tìm cách đưa những hộp trà đầu tiên đến với người tiêu dùng.
Họ mang sản phẩm đi giới thiệu tại các hội chợ, phiên chợ quê. Có những ngày đi cả ngày nhưng chỉ bán được vài hộp trà.
Có lúc khó khăn tưởng chừng khiến những người trẻ phải dừng lại. Nhưng điều giữ họ tiếp tục chính là niềm tin rằng cây thuốc quê mình hoàn toàn có thể tạo ra giá trị nếu được làm đúng cách.
Thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống, Hợp tác xã bắt đầu tìm hiểu sâu hơn về dược liệu, quy trình sản xuất và thị trường. Chị Hậu tham gia các lớp học về đông y do Hội Đông y tỉnh Thanh Hóa tổ chức. Các thành viên cũng tìm đến những mô hình sản xuất thành công để học hỏi kinh nghiệm trồng, thu hái, sơ chế, bảo quản và quản lý chất lượng.
Từng công thức phối trộn được nghiên cứu, thử nghiệm để tạo ra những sản phẩm tiện lợi, phù hợp với nhu cầu sử dụng hằng ngày.
Từ những bó cây thuốc phơi khô, Hợp tác xã dần hình thành các dòng trà túi lọc như trà xạ đen - cà gai leo, trà giảo cổ lam, trà lạc tiên...
Để kiểm soát chất lượng ngay từ đầu vào, Hợp tác xã xây dựng vùng nguyên liệu rộng khoảng 5ha theo hướng hữu cơ. Cây được chăm sóc bằng phân bón hữu cơ ủ tự nhiên, không sử dụng thuốc kích thích tăng trưởng và thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Cỏ được phát thủ công thay vì sử dụng thuốc diệt cỏ.
Các hộ dân liên kết cũng phải cam kết tuân thủ quy trình sản xuất. Chỉ những nguyên liệu đạt yêu cầu mới được Hợp tác xã thu mua.
“Trà dược liệu là sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe nên mình không thể làm qua loa”, chị Hậu nói.
Để có được những sản phẩm ấy, công việc trên đồng đất cũng không hề nhẹ nhàng. Mùa mưa, các thành viên phải thường xuyên kiểm tra sâu bệnh, dựng giàn, thoát nước để hạn chế cây bị úng. Dược liệu sau khi thu hái được đưa vào sơ chế trong ngày. Từng cành, từng lá được lựa chọn trước khi sấy khô và đóng gói.
Nhờ cách làm này, những cây thuốc vốn có giá trị thấp khi bán thô từng bước trở thành sản phẩm hoàn chỉnh.
Hiện trung bình mỗi năm, Hợp tác xã đưa ra thị trường khoảng 10.000 sản phẩm các loại, với giá bán từ 70.000 - 120.000 đồng/sản phẩm. Doanh thu đạt khoảng 700 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/năm, tạo việc làm thường xuyên cho 8 lao động địa phương.
Một trong những sản phẩm tiêu biểu là trà xạ đen - cà gai leo Happy Life đạt chuẩn OCOP 3 sao.
Với chị Hậu, câu chuyện của cây dược liệu không nên dừng lại ở việc trồng, thu hái và bán trà. Khi vùng nguyên liệu đã hình thành, Hợp tác xã bắt đầu nghĩ đến một hướng đi rộng hơn: kết hợp sản xuất dược liệu với du lịch trải nghiệm.
Ý tưởng được hình thành sau những lần đón các nhóm khách từ thành phố tìm đến khu trồng cây. Giữa những luống dược liệu xanh mướt, du khách được nghe giới thiệu về từng loại cây, tìm hiểu cách trồng và tự tay hái dược liệu. Sau đó, họ ngồi ngay tại vườn thưởng thức những chén trà nóng, giữa không gian yên bình của vùng núi.
Những trải nghiệm ấy khiến Hợp tác xã nhận ra rằng chính vùng nguyên liệu có thể trở thành một sản phẩm du lịch.
Theo chị Hậu, Cẩm Thạch có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mô hình này. Ngoài khí hậu phù hợp với cây dược liệu, khu vực còn nằm gần những điểm du lịch nổi tiếng như suối cá thần Cẩm Lương và Pù Luông.
Định hướng của Hợp tác xã là từng bước xây dựng các vườn dược liệu hữu cơ gắn với trải nghiệm chăm sóc sức khỏe, tìm hiểu văn hóa bản địa và thưởng trà giữa không gian núi rừng.
Nếu được triển khai bài bản, mô hình không chỉ giúp nâng giá trị cây dược liệu mà còn mở thêm cơ hội việc làm cho người dân. Các hộ có thể tham gia trồng và cung cấp nguyên liệu; người dân địa phương có thể tham gia các hoạt động phục vụ du khách; những sản phẩm từ cây thuốc có thêm một kênh tiêu thụ ngay tại vùng nguyên liệu.
Quan trọng hơn, việc phát triển cây dược liệu còn góp phần giữ đất, giữ rừng, bảo tồn những giống cây thuốc bản địa và những tri thức dân gian đang đứng trước nguy cơ mai một.
Những kinh nghiệm về cây thuốc vốn được truyền miệng qua nhiều thế hệ, khi được chuẩn hóa và đưa vào sản phẩm, có thể trở thành một phần của câu chuyện kinh tế địa phương.
“Nếu chỉ bán trà thì giá trị vẫn còn giới hạn. Nhưng khi kết nối cây dược liệu với trải nghiệm văn hóa, du lịch và lối sống xanh, giá trị sẽ được nâng lên nhiều lần. Trước xu hướng người tiêu dùng ngày càng quan tâm tới sức khỏe và sản phẩm tự nhiên, mô hình này hứa hẹn mở ra nhiều kỳ vọng”, chị Hậu chia sẻ.
Từ ứng dụng giống mới, cơ giới hóa sản xuất đến sử dụng nền tảng số trong quảng bá, tiêu thụ nông sản, khoa học công nghệ đang mở ra nhiều cơ hội để nông dân Thanh Hóa đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao năng suất và giá trị nông sản. Tuy nhiên, để công nghệ thực sự phát huy hiệu quả trên đồng ruộng, người nông dân không chỉ cần vốn đầu tư mà còn phải có kiến thức, kỹ năng và khả năng tiếp cận những tiến bộ kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế…
Ngày 12/10/2026, Nhà máy Phân Bón Cà Mau chính thức mở cửa đón những đoàn khách đầu tiên của chương trình “Tham quan nhà máy – Gặt hái mùa vàng 2026”, khởi đầu chuỗi 7 đợt tham quan kéo dài đến cuối tháng 10.
Muốn thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, không chỉ cần khu công nghiệp tốt, chính sách tốt, mà còn phải có môi trường sống đủ tốt để chuyên gia quốc tế yên tâm làm việc, gắn bó và đưa gia đình đến sinh sống…
Trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam được kỳ vọng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, bài toán không còn chỉ là đưa sản phẩm ra nước ngoài mà là xây dựng những thương hiệu được người tiêu dùng quốc tế tin tưởng và lựa chọn. Theo Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (SABECO), năng lực cạnh tranh toàn cầu bền vững cần được xây dựng từ chính nội lực doanh nghiệp và hệ sinh thái trong nước.
Làng nghề Kim Lan đang cho thấy một hướng đi rất đáng quan tâm. Đó là đặt cộng đồng vào trung tâm của bảo tồn, dùng công nghệ, đổi mới sáng tạo để nâng giá trị sản phẩm, kết nối di sản với thị trường bằng chuỗi giá trị mở và tạo cơ chế phối hợp để khai thác hiệu quả các nguồn lực địa phương.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.