mẹo kinh doanh nhà hàngchiến thuật kéo khách của nhà hàngmón lời 0đ của nhà hànglời 0đ vẫn bán, nhà hàng làm sao có lãi
VnEconomy
VnEconomy

Ông đánh giá thế nào về bức tranh doanh nghiệp xã hội của Việt Nam hiện nay?

Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau. Số doanh nghiệp đăng ký chính thức theo Luật Doanh nghiệp chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với số lượng thực sự họ đang hoạt động. Đó là các tổ chức kinh doanh, trung tâm sáng kiến xã hội, phòng chăm sóc cộng đồng, các hợp tác xã… giải quyết những vấn đề xã hội, môi trường nhưng phần lớn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ lợi ích cho người yếu thế, người khuyết tật.

Năm 2009, khi CIEM điều tra về các tổ chức dưới hình thức gọi là doanh nghiệp xã hội thì có khoảng 1.000 doanh nghiệp. Đến năm 2017, CIEM cũng có điều tra, đánh giá và ước lượng khoảng 20.000 doanh nghiệp kinh doanh trách nhiệm xã hội. Phần lớn trong số họ hoạt động trong lĩnh vực y tế, giáo dục, dịch vụ du lịch cộng đồng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên…

Nhìn một cách tổng thể, đây là một phong trào mà sức sống của nó rất mạnh mẽ. Tôi rất ngạc nhiên, giới trẻ tham gia vào khởi nghiệp xã hội lại chiếm đại đa số. Những doanh nghiệp vận hành trong lĩnh vực xã hội cũng đại đa số là giới trẻ.

Một điều khác biệt nữa, doanh nghiệp xã hội tạo ra lợi nhuận và sử dụng lợi nhuận để quay trở lại tái đầu tư, tiếp tục mở rộng kinh doanh, không chia cho cổ đông hay những người góp vốn.

Điều đáng nói, hoạt động của những doanh nghiệp này rất âm thầm, không khoe khoang hay kêu ca. Họ lầm lũi hy sinh, luôn tìm kiếm những giải pháp bằng năng lực nội sinh. Huy động những người cùng ý tưởng để chia sẻ cách thức làm việc nhằm tạo ra những sản phẩm mang lại lợi ích cho người yếu thế, “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

VnEconomy

Lợi ích xã hội là rất lớn từ doanh nghiệp xã hội tạo ra, nhưng có lẽ khu vực doanh nghiệp này vẫn đối mặt với nhiều khó khăn?

Hiện nay chúng ta chưa có một hệ thống chính sách cụ thể nào cho cộng đồng doanh nghiệp xã hội và doanh nghiệp tạo tác động xã hội, vì thế khu vực doanh nghiệp này gặp rất nhiều khó khăn: đa số là quy mô nhỏ, nhận thức về doanh nghiệp xã hội còn hạn chế, chưa được công nhận chính thức từ phía Nhà nước, thiếu một địa vị pháp lý rõ ràng, hạn chế về nguồn nhân lực, khả năng tiếp cận vốn, cũng như một hệ thống các tổ chức trung gian, dịch vụ hỗ trợ có tính kết nối...

Đa phần các doanh nghiệp xã hội Việt Nam là các tổ chức, doanh nghiệp trẻ, do đó, thiếu kinh nghiệm, năng lực tổ chức và kỹ năng quản lý điều hành kinh doanh, gắn kết cộng đồng, đặc biệt để đáp ứng nhu cầu kết hợp giữa kỹ năng quản lý kinh doanh với kỹ năng quản lý sứ mệnh xã hội để tạo các tác động xã hội bền vững.

Ở Việt Nam có hàng triệu người yếu thế, người tàn tật, người bị ảnh hưởng của chất độc da cam, người nghèo,… nên thị trường cho doanh nghiệp xã hội và doanh nghiệp tạo tác động xã hội là rất lớn. Thực tế, Nhà nước cũng đã dành nguồn lực rất lớn để giải quyết vấn đề này. Song, nếu chúng ta dành nguồn lực đó và tìm kiếm những cách thức tốt hơn, bền vững hơn thông qua doanh nghiệp xã hội để thực hiện những chính sách xã hội thì sẽ có một bước tiến lớn. Đây cũng chính là dư địa cho phát triển doanh nghiệp xã hội hay nói cách khác là để giải quyết những vấn đề xã hội một cách hiệu quả và công bằng hơn.

VnEconomy

Theo ông, làm thế nào để doanh nghiệp xã hội lớn lên hay nói cách khác là để ngày càng có nhiều doanh nghiệp xã hội hơn nữa?

Chúng ta cần xuất phát từ thực tiễn, đừng gò ép họ vào khuôn khổ pháp lý mà cần có chính sách khuyến khích phát triển. Đơn cử, Chính phủ luôn luôn có nguồn lực để thực hiện các chính sách xã hội. Vì vậy, để hỗ trợ nhóm yếu thế, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người mãn hạn tù,… Chính phủ cần mua sản phẩm của doanh nghiệp xã hội về cấp cho những đối tượng cần hỗ trợ, như vậy càng tạo ra thị trường ổn định cho doanh nghiệp xã hội.

Có thể nói doanh nghiệp xã hội không lớn được, bởi họ không đi kinh doanh đa ngành. Họ chỉ tập trung giải quyết vấn đề xã hội của vùng đó, địa phương đó. Họ rất muốn những người khác ở địa phương khác học tập kinh nghiệm, cách làm của họ để về giải quyết các vấn đề xã hội ở địa phương họ. Đây là sự khác biệt của doanh nghiệp xã hội và doanh nghiệp thông thường. Doanh nghiệp xã hội sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, cách làm của họ với các doanh nghiệp khác để cùng nhau thành công.

Để nhân rộng mô hình doanh nghiệp xã hội rất cần một hệ sinh thái làm bà đỡ. Đơn cử như Câu lạc bộ Doanh nhân Sao Đỏ phối hợp cùng Trung tâm Nghị Lực Sống cho ra mắt Công ty cổ phần Nghị Lực Sống - doanh nghiệp xã hội, được đóng góp bởi các cổ đông có chung mục tiêu hỗ trợ cho người khuyết tật và người yếu thế theo hướng thiết thực, hiệu quả và bền vững.

Doanh nghiệp xã hội Nghị Lực Sống sẽ sử dụng phần lớn lợi nhuận của công ty vào mục tiêu hỗ trợ người khuyết tật và người yếu thế; sử dụng tối đa nhân sự là người khuyết tật và người yếu thế; các hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận sẽ đầu tư các Trung tâm đào tạo, hướng nghiệp cho người khuyết tật và người yếu thế trên 63 tỉnh, thành phố.

Hy vọng trong 10 năm tới chúng ta có một hệ sinh thái “Nghị lực sống” mạnh mẽ. Nếu điều này thành công, sẽ trở thành hình tượng doanh nghiệp xã hội số 1 trên thế giới. Điều đáng nói, đây chính là sự kết hợp hoàn hảo giữa doanh nghiệp kinh doanh làm việc xã hội thông qua doanh nghiệp xã hội để nhân rộng mô hình doanh nghiệp xã hội.

Bên cạnh đó các doanh nghiệp xã hội rất cần một chính sách hỗ trợ thực sự của Nhà nước. Đã đến lúc Chính phủ cần coi các doanh nghiệp xã hội như những đối tác chia sẻ gánh nặng, giúp Chính phủ thực hiện các mục tiêu xã hội. Việc ban hành các văn bản pháp luật tạo lập khung khổ pháp lý, chính thức công nhận và đề ra các chính sách cụ thể khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp xã hội cũng như thể chế thực hiện các chính sách đó là vô cùng cần thiết.

VnEconomy

Ở một số quốc gia phát triển, doanh nghiệp xã hội phát triển rất sớm. Vậy chúng ta học hỏi gì từ họ, thưa ông?

Phong trào doanh nghiệp xã hội ở nước ngoài phát triển nhưng không phải nước nào cũng thành công. Nơi thành công nhất với khu vực doanh nghiệp xã hội là nước Anh, Hoa Kỳ, Canada. Ở nước Anh có 2 Đảng là Đảng Lao động và Đảng Bảo thủ, họ luôn luôn khác biệt nhau về mọi mặt, trừ chính sách cho doanh nghiệp xã hội là có sự đồng nhất như nhau.

Họ quan tâm tới bản chất nên doanh nghiệp xã hội được khuyến khích phát triển và phát triển rất đa dạng. Chiến lược phát triển doanh nghiệp xã hội ở Anh đặt ra mục tiêu là xây dựng một môi trường thuận lợi thông qua việc củng cố vai trò và sự tham gia chính thức của Chính phủ, đảm bảo rằng các quy định luật pháp không làm cản trở sự phát triển doanh nghiệp xã hội, thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp xã hội trong quá trình mua sắm dịch vụ công. Để làm cho doanh nghiệp xã hội trở thành những doanh nghiệp tốt hơn, Chính phủ cam kết làm việc với các tổ chức nâng cao năng lực để hỗ trợ nâng cao năng lực kinh doanh cho doanh nghiệp xã hội.

Ngoài ra, Chính phủ cũng có những giải pháp cụ thể để đảm bảo nguồn vốn tài chính cho doanh nghiệp xã hội. Chuyển đổi từ việc doanh nghiệp xã hội phụ thuộc vào vốn tài trợ sang tự chủ tài chính từ hoạt động kinh doanh.

Đồng thời, tạo ra các giá trị cho doanh nghiệp xã hội thông qua thừa nhận chính thức và truyền thông rộng rãi những đóng góp của doanh nghiệp xã hội, xây dựng hệ thống đánh giá để tạo dựng uy tín và niềm tin về những giá trị xã hội và kinh tế mà doanh nghiệp xã hội mang lại.

VnEconomy

VnEconomy 27/03/2023 10:00

Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 12-2023 phát hành ngày 27-03-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây: 

https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam

VnEconomy

Chuyển đổi nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng để gia tăng giá trị

Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.

Đồng bộ dữ liệu để người dân TP. Hồ Chí Minh hưởng lợi từ chuyển đổi số

Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.

Công nghiệp Thủ đô: Bảy thập kỷ chuyển mình và bứt phá

Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.

Nông nghiệp xanh và nông thôn thông minh

Nông thôn đã đi một quãng dài từ chuyện đủ ăn, có điện, có đường, có trường, có trạm. Trên nền ấy, một lớp thay đổi khác đang hình thành: cánh đồng được quản trị bằng dữ liệu, phụ phẩm trở thành đầu vào mới, sản vật quê nhà có thương hiệu, có mã truy xuất, có thể bán qua một chiếc điện thoại. Nông nghiệp xanh và nông thôn thông minh gặp nhau ở những việc rất gần với người dân: làm ra nhiều giá trị hơn trên đất cũ, giảm phần phải bỏ đi, giữ môi trường sống và tiếp cận thị trường thuận lợi hơn.

Mặt tiền xanh bên chân sóng

Bắc Trung Bộ từng được biết đến là một trong những dải đất gặp nhiều khó khăn nhất Việt Nam do địa hình dẹp ngang, thiên tai khắc nghiệt và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dấu tích chiến tranh. Nhưng hôm nay, chính những yếu tố từng bị xem là bất lợi đang được đánh giá lại. Biển mở ra không gian kinh tế, Trường Sơn nối với các hành lang giao thương, còn cao tốc rút ngắn khoảng cách, tiết giảm chi phí logistics, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tài nguyên tự nó chưa tạo nên lợi thế. Giá trị xuất hiện khi con người biết tổ chức, kết nối và sử dụng tài nguyên đúng cách.

Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy