Số người sinh sống tại các siêu đô thị đã tăng đáng kể trong nhiều thập kỷ qua. Theo dữ liệu của Ban Dân số Liên Hợp Quốc, tỷ lệ cư dân đô thị sống tại các siêu đô thị tăng từ 2,5% năm 1950 lên 16,4% vào năm 2020. Trái lại, xu hướng sống tại các thành phố nhỏ ngày càng giảm. Trong cùng giai đoạn, tỷ lệ dân số đô thị sống tại những nơi có từ 50.000 đến 500.000 người giảm từ 50,8% xuống 38,6%.
Sự thay đổi này phản ánh xu hướng đô thị hóa trên toàn cầu. Cơ hội kinh tế, cơ sở hạ tầng tốt hơn và trong một số trường hợp là tình trạng bất ổn chính trị tại khu vực nông thôn đã thúc đẩy người dân đổ về các vùng đô thị lớn.
Tuy nhiên, tình trạng dân cư ngày càng tập trung cũng làm trầm trọng thêm những vấn đề phổ biến tại các thành phố, như thiếu nhà ở, hệ thống giao thông quá tải và áp lực ngày càng lớn đối với môi trường.
Theo dữ liệu của Ban Dân số Liên Hợp Quốc, với 41,9 triệu người, Jakarta của Indonesia hiện đứng đầu danh sách những thành phố đông dân nhất thế giới. Xếp sau là thủ đô Dhaka của Bangladesh với 36,6 triệu người và Tokyo của Nhật Bản với 33,4 triệu người.
Các vị trí tiếp theo lần lượt thuộc về New Delhi với 30,2 triệu người, Thượng Hải 29,6 triệu người, Quảng Châu 27,6 triệu người và Cairo 25,6 triệu người.
Sự phân bố về địa lý cho thấy các đô thị châu Á chiếm ưu thế rõ rệt trong danh sách những thành phố lớn nhất thế giới, trong khi các thành phố tại châu Âu và châu Mỹ đứng ở thứ hạng thấp hơn đáng kể.
New York đứng thứ 22 với 13,9 triệu người. Trong khi đó, London, với dân số 10,4 triệu người, đứng thứ 33 và là siêu đô thị duy nhất của châu Âu.
Mật độ dân số giữa các siêu đô thị cũng có sự chênh lệch rất lớn. Cairo của Ai Cập có khoảng 15.542 người/km2, trong khi New York trải rộng hơn nhiều, với mật độ chỉ 2.961 người/km2.
Mumbai, đứng thứ 12 với 20,2 triệu người, là siêu đô thị có mật độ dân số cao nhất, đạt bình quân 27.301 người/km2.
Xu hướng này phản ánh những đặc điểm mang tính cơ cấu của quá trình đô thị hóa toàn cầu. Ngày càng nhiều người đổ về các trung tâm kinh tế, đặc biệt tại những nền kinh tế mới nổi. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nhanh đang gây áp lực ngày càng lớn lên cơ sở hạ tầng, nhà ở và môi trường, đồng thời đặt ra những thách thức dài hạn mới đối với công tác quy hoạch đô thị.
Liên Hợp Quốc dự báo tốc độ phát triển của những thành phố lớn nhất thế giới sẽ chậm lại trong tương lai. Tỷ lệ cư dân đô thị sống tại các siêu đô thị được dự báo tăng lên 17% vào năm 2030, sau đó gần như đi ngang và giảm nhẹ còn 16,3% vào năm 2050.
Trong khi đó, nhóm đô thị có từ 5 triệu đến 10 triệu người được dự báo phát triển nhanh hơn. Đến năm 2050, nhóm này sẽ chiếm khoảng 10,6% tổng dân số đô thị toàn cầu. Cũng vào thời điểm đó, các thành phố có từ 50.000 đến 500.000 người dự kiến vẫn là nơi sinh sống của 40,4% dân số đô thị. Các đô thị có từ 1 triệu đến 5 triệu người chiếm 21,3%, còn nhóm có từ 500.000 đến 1 triệu người chiếm 11,4%.
Trí tuệ nhân tạo (AI) được kỳ vọng sẽ tạo ra bước ngoặt cho ngành chăm sóc sức khỏe, từ nâng cao chất lượng chẩn đoán đến tối ưu vận hành và giảm chi phí y tế. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng quá trình ứng dụng AI sẽ diễn ra từng bước do còn vướng nhiều rào cản về độ tin cậy, bảo mật dữ liệu, tính minh bạch và sự thận trọng của ngành y tế…
Nhà đầu tư không muốn nắm giữ vị thế lớn trước khi bước vào kỳ nghỉ cuối tuần mà Mỹ có thể một cuộc tấn công lớn vào Iran...
Tuần này, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều biến động khi Mỹ triển khai chính sách thuế quan mới với hơn 60 đối tác, còn chiến sự Mỹ-Iran leo thang và gây gián đoạn các tuyến hàng hải chủ chốt...
Lực bắt đáy vàng trong tuần này được phản ánh rõ qua việc quỹ ETF vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust mua ròng...
Mức thuế quan bổ sung 12,5% mới áp lên hàng hóa Trung Quốc sẽ thay thế mức thuế toàn cầu tạm thời 10% vừa hết hiệu lực ngày thứ Sáu (24/7). Mức thuế mới có thể khiến Bắc Kinh bất bình, nhưng nhiều khả năng chưa đủ để dẫn đến hành động trả đũa...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.