Xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng
TTùng Dương
Chọn cỡ chữ
Thực tế hiện nay đặt ra yêu cầu phải quy định hướng dẫn phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng với tư cách như là giá khởi điểm để làm cơ sở đàm phán, ký kết hợp đồng về chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng hoặc chuyển nhượng trên sàn giao dịch...
Quy định phương pháp định giá rừng và xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng thay thế Thông tư số 20 là rất cần thiết. Ảnh minh họa
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang xây dựng, lấy ý kiến dự thảo
Thông tư Quy định phương pháp định giá rừng và xác định mức chi trả dịch vụ hấp
thụ và lưu giữ carbon của rừng. Một trong những điểm mới quan trọng trong Thông
tư đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng đó là việc quy định chi tiết
phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.
Đáng chú ý, mới đây Chính phủ đã ban hành Nghị định số
180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, có hiệu
lực từ 15/7/2026, trong đó có yêu cầu bổ sung quy định phương pháp xác định mức
chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng đối với rừng thuộc sở hữu
toàn dân.
NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ TRONG ĐỊNH GIÁ RỪNG
Liên quan đến phương pháp định giá rừng; hướng dẫn định
khung giá rừng, các đơn vị lâm nghiệp đã dựa các nội dung trong Thông tư số
20/2023/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông
nghiệp và Môi trường) để thực hiện các quy định khi xác định giá các loại rừng
phù hợp với điều kiện thực tiễn, phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và sử dụng
tài nguyên rừng; thực hiện các hoạt động nhằm xác định tổng giá trị kinh tế của
rừng;…
Đây được coi là những căn cứ, cơ sở pháp lý để xác định,
tính toán giá các loại rừng phục vụ cho công tác quản lý, điều hành và tổ chức
các hoạt động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh rừng; định giá rừng theo
quy định của Luật Lâm nghiệp.
Tuy nhiên, theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp
và Môi trường, thực tiễn hiện nay cho thấy, việc định giá rừng đã bộ lộ một số
hạn chế. Đáng chú ý, một số đề xuất của các địa phương tập trung vào bổ sung nội
dung đơn giá bồi thường rừng, phương pháp tính khung giá rừng…
Cụ thể, về đơn giá bồi thường, Thông tư số 20 chưa có quy định
cụ thể về phương pháp xác định đơn giá bồi thường rừng khi nhà nước thu hồi rừng.
Bên cạnh đó, theo phương pháp tính khung giá rừng tại Thông tư số 20, rừng đặc
dụng, phòng hộ, sản xuất có khung giá khác nhau. Trong trường hợp thay đổi quy
hoạch 3 loại rừng sẽ gặp phải vướng mắc khi áp dụng khung giá rừng đối với những
khu rừng có chuyển đổi.
Việc định giá rừng đã bộ lộ một số hạn chế. Ảnh minh họa
Ngoài ra, các địa phương cũng đề nghị hướng dẫn cách tính
giá trị rừng cho loài cây mọc nhanh và loài cây mọc chậm; hướng dẫn cụ thể việc
áp dụng khung giá rừng để tính giá rừng cho từng lô rừng cụ thể khác nhau về vị
trí, địa hình, chất lượng rừng.
Đáng chú ý, theo dự thảo tờ trình của Cục Lâm nghiệp và Kiểm
lâm, hiện nay, ở Việt Nam đang triển khai thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm
phát thải khí nhà kính tại vùng Bắc Trung Bộ cho Quỹ đối tác carbon trong lâm
nghiệp (WB là cơ quan nhận ủy thác) theo quy định tại Nghị định số
107/2022/NĐ-CP.
Tuy nhiên, giá chuyển nhượng kết quả giảm phát thải chủ yếu dựa
vào đề xuất của bên mua và có xem xét tới giá carbon trên thị trường thế giới,
do chưa có quy định về mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.
Trong những năm tới để hiện thực hóa Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP và hướng tới vận hành thị trường carbon trong nước, đặt ra yêu cầu phải hướng dẫn phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng với tư cách như là giá khởi điểm để làm cơ sở đàm phán, ký kết hợp đồng về chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng hoặc chuyển nhượng trên sàn giao dịch carbon.
Gần đây, Luật giá, Luật Đấu thầu và một số luật khác có liên
quan mới được ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế nên cần xây dựng Thông tư
thay thế phù hợp với quy định mới.
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế này, Cục Lâm nghiệp và
Kiểm lâm, cho rằng việc ban hành Thông tư quy định phương pháp định giá rừng và
xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng thay thế Thông
tư số 20 là rất cần thiết.
PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH MỨC CHI TRẢ DỊCH VỤ HẤP THỤ VÀ LƯU GIỮ
CARBON RỪNG
Việc xây dựng quy định nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ,
minh bạch, tuân thủ quy định của pháp luật về giá, pháp luật về lâm nghiệp và
pháp luật khác có liên quan. Các phương pháp xác định giá rừng, khung giá rừng,
mức chi trả dịch vụ môi trường rừng được xây dựng dựa trên nguyên tắc khoa học,
tính đúng, tính đủ chi phí và tuân theo nguyên tắc thị trường.
Một trong những điểm bổ sung mới quan trọng trong dự thảo
thông tư so với Thông tư 20 đó là đề xuất quy định chi tiết phương pháp xác định
mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng theo khoản 1 Điều 7 Nghị
định số 180/2026/NĐ-CP.
Phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ
carbon của rừng với các nội dung xây dựng mới gồm: Mức chi trả theo phương pháp
chi phí; Mức chi trả theo phương pháp so sánh; Xác định, điều chỉnh mức chi trả.
Phương pháp chi phí được quy định dựa trên căn cứ điểm a khoản
4 Điều 7 Nghị định số 180/2026/NĐ-CP và vận dụng nguyên tắc xác định giá theo
Luật Giá năm 2023, Thông tư số 45/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính.
Theo đó, mức chi trả được xác định căn cứ theo chi phí xây dựng,
thực hiện dự án, chi phí hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng và hỗ trợ phát triển
sinh kế và thuế, phí. Trong đó, chi phí hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng và hỗ trợ
phát triển sinh kế tối đa 15% đối với bảo vệ, phát triển rừng, hỗ trợ phát triển
sinh kế được xác định căn cứ chính sách đầu tư trong lâm nghiệp (Nghị định số
58/2024/NĐ-CP) và trên cơ sở tổng kết thực tiễn triển khai Thỏa thuận chi trả
giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) với Quỹ Đối tác Carbon trong Lâm nghiệp
(FCPF) của WB giai đoạn 2021-2025.
Phương pháp so sánh được xây dựng trên cơ sở vận dụng phương
pháp so sánh quy định tại Luật Giá năm 2023 và Thông tư số 45/2024/TT-BTC của Bộ
Tài chính. Mức chi trả được xác định trên cơ sở so sánh với các dự án carbon rừng
tham chiếu thông qua các hệ số điều chỉnh K1, K2, K3 về chất lượng, nguy cơ rủi
ro, đảo nghịch và quy mô tín chỉ tạo ra của dự án. Các hệ số này có tác động trực
tiếp đến giá của tín chỉ, đồng thời có khả năng lượng hóa và thu thập được từ hồ
sơ dự án, bảo đảm tính khả thi khi áp dụng.
Theo dự thảo, mức chi trả để đàm phán hợp đồng hoặc đưa lên
sàn giao dịch carbon là mức chi trả cao hơn trong hai mức được xác định theo
phương pháp chi phí và phương pháp so sánh.
Trường hợp không có giao dịch trong
vòng 12 tháng liên tục, tổ chức xây dựng dự án carbon rừng điều chỉnh mức chi
trả theo giá tín chỉ carbon bình quân chung của 3 dự án carbon rừng đã giao dịch
gần nhất tính từ thời điểm điều chỉnh mức chi trả trở về trước và đáp ứng yêu cầu
theo quy định.
Biến đổi khí hậu, thời tiết nắng nóng cực đoan, nhiệt độ ngày một tăng đặt ra yêu cầu xây dựng phát triển các công trình xanh, công trình có khả năng thích ứng, chống chịu nắng nóng, tối ưu năng lượng, giảm phát thải carbon...
Nga đang phát triển đoàn tàu cao tốc đầu tiên do nước này tự chế tạo, có thể đạt tốc độ 400 km/h và chở tối đa 460 hành khách. Việc ứng dụng AI trong hỗ trợ vận hành, kết hợp các giải pháp giảm khối lượng đoàn tàu, tiếng ồn và tiêu thụ năng lượng, được kỳ vọng nâng cao hiệu quả công nghệ đường sắt…
Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam (cập nhật năm 2025) vừa công bố đưa ra 3 kịch bản tương ứng với các mức phát thải và phát triển kinh tế xã hội khác nhau. Điểm đáng chú ý, kịch bản đã bước đầu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu với một số ngành/lĩnh vực nhạy cảm của Việt Nam như sản xuất lúa; sức khỏe cộng đồng; đô thị và công trình…
Biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức lớn cho các địa phương ven biển, đặc biệt là tại tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa. Tuy nhiên, thay vì đến khi thiên tai xảy ra mới ứng phó, người dân nơi đây đã chủ động chuẩn bị trước, giảm thiểu thiệt hại và tìm kiếm những giải pháp bền vững hơn...
Chính phủ Hàn Quốc đặt mục tiêu đạt công suất năng lượng tái tạo 100 GW vào năm 2030 và hướng tới việc xe điện cùng xe chạy bằng hydro chiếm hơn 70% doanh số bán xe mới vào năm 2035...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...