Ngày 6/11/2025, tại Hà Nội, trong khuôn khổ Chương trình tập huấn báo chí về Quy định chống mất rừng và suy thoái rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), đã diễn ra tọa đàm chủ đề “Việt Nam – Liên minh châu Âu: Hợp tác chuẩn bị thực hiện EUDR”.
Tọa đàm có sự tham gia của đại diện Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, Vụ Hợp tác quốc tế Bộ Nông nghiệp và Môi trường (MAE), Cục Lâm nghiệp - Kiểm Lâm, Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST).
Nội dung thảo luận tập trung vào chuẩn bị dữ liệu, thử nghiệm mô hình truy xuất nguồn gốc, phối hợp giữa Nhà nước – Doanh nghiệp – Địa phương và hướng dẫn bước đầu cho xuất khẩu gỗ, cà phê, ca cao, cao su sang EU.
Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết Việt Nam tiếp cận sớm và chủ động đối với EUDR. Ngay từ cuối năm 2023, khi EU dự kiến áp dụng EUDR từ năm 2024, Bộ đã tổ chức hàng chục cuộc họp, trong đó có nhiều cuộc họp do Bộ trưởng chủ trì với sự tham gia của địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp. Báo chí được mời tham dự để đảm bảo thông tin thống nhất.
Ông Tuấn ví EUDR như “IUU đối với nông – lâm sản". “Nếu trước đây có IUU trong thủy sản, thì nay có IUU đối với rừng. Điều quan trọng không chỉ là thực hiện cam kết quốc tế, mà là trách nhiệm của ngành nông nghiệp trong đảm bảo phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên rừng cho thế hệ tương lai”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Ngay từ năm 2024, Bộ đã thiết lập cơ chế phối hợp công – tư, thành lập các nhóm công tác gồm Cục Lâm nghiệp – Kiểm lâm, Cục Trồng trọt, Cục Bảo vệ thực vật và mời các hiệp hội ngành hàng tham gia. Theo ông Tuấn, Bộ xác định hai nhóm thông tin trọng yếu mà doanh nghiệp phải khai báo: Tọa độ vùng trồng, thể hiện qua bản đồ polygon sử dụng dữ liệu vệ tinh; Thông tin truy xuất trong toàn chuỗi cung ứng, trong đó doanh nghiệp là đơn vị chịu trách nhiệm cuối cùng khi đưa hàng vào cảng EU.
Ông Tuấn cho hay Việt Nam triển khai nhiều mô hình thí điểm nhằm thu thập dữ liệu vùng trồng với chi phí thấp và minh bạch, đồng thời kiểm soát chặt chẽ tại các vùng giáp ranh rừng – cà phê – cao su nhằm ngăn ngừa xâm lấn rừng mở rộng diện tích. Nhờ các nỗ lực này, Việt Nam được EU đánh giá thuộc nhóm rủi ro thấp, với tỷ lệ kiểm tra chỉ 1%; trong khi một số đối thủ như Brazil, Indonesia thuộc nhóm rủi ro trung bình, tỷ lệ kiểm tra 8%.
EU vừa thông báo một số điều chỉnh có lợi cho doanh nghiệp Việt Nam như: Đơn giản hóa khai báo với trường hợp sử dụng nguyên liệu nhập khẩu; Doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ cần khai báo một lần, hệ thống tự cập nhật. Thời hạn áp dụng đối với Doanh nghiệp lớn: từ 1/1/2026, có gia hạn kỹ thuật thêm 6 tháng. Với tất cả doanh nghiệp: áp dụng chính thức từ 1/1/2027”.
Đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm Lâm, ông Trương Tất Đơ, cho biết ngành lâm nghiệp có hai vai trò: quản lý tài nguyên rừng và quản lý ngành hàng gỗ – sản phẩm gỗ xuất khẩu. Cục đang vận hành Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp (VNTLAS) sau Hiệp định VPA/FLEGT ký với EU; đồng thời cũng đang xây dựng nền tảng dữ liệu lâm nghiệp, trong đó doanh nghiệp và người dân có thể tra cứu tọa độ lô rừng, xác định liệu hoạt động của mình có gây mất rừng hay không. Nền tảng phân loại 3 mức rủi ro: cao – trung bình – thấp để doanh nghiệp chủ động khi xuất khẩu.
Cục Lâm nghiệp và Kiểm Lâm đã xây dựng Hướng dẫn tạm thời cho doanh nghiệp gỗ, dự kiến ban hành chính thức trước 1/11/2026. Cục cũng phối hợp với hiệp hội và đối tác EU tổ chức 12 hội thảo/webinar, phát hành 16 bản tin kỹ thuật và gửi văn bản tới các tỉnh yêu cầu rà soát, đảm bảo tuân thủ EUDR.
Ông Cao Xuân Thanh, Chánh Văn phòng Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), cho rằng EUDR mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường đồ gỗ và lâm sản có giá trị cao. Tuy nhiên, các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn: Dữ liệu nguồn gốc lâm sản phân tán, rừng hộ gia đình nhỏ lẻ, ranh giới chưa rõ; Một số tỉnh chưa số hóa bản đồ; Chưa có hướng dẫn rõ ràng về truy xuất nguyên liệu nhập khẩu (như viên nén gỗ); Hộ dân thiếu khả năng tiếp cận công nghệ số, chưa biết đo tọa độ hay cập nhật nền tảng số.
Theo ông Cyril Loisel, Tham tán Thứ nhất về Biến đổi khí hậu, Môi trường, Việc làm và Chính sách xã hội (Phái đoàn EU tại Việt Nam), EU đang triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ kỹ thuật tại Việt Nam, đặc biệt trong các ngành hàng cà phê, ca cao và lâm nghiệp.
Các dự án được triển khai phối hợp với Cục Lâm nghiệp, tổ chức quốc tế và doanh nghiệp nhằm xây dựng công cụ truy xuất nguồn gốc cũng như chuẩn bị cơ sở dữ liệu đáp ứng yêu cầu EUDR. “EU khẳng định luôn phối hợp chặt chẽ với các đối tác tại Việt Nam để hỗ trợ quá trình chuẩn bị thực thi quy định này,” ông Loisel nhấn mạnh.
Ông Oemar Idoe, Trưởng khối các dự án của Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ), cho biết GIZ phối hợp cùng các đối tác Đức và Hà Lan triển khai nhiều dự án hỗ trợ Việt Nam chuẩn bị thực thi EUDR. Dự án gồm các nội dung chính: Tăng cường năng lực cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường và địa phương; Hỗ trợ Sơn La và Thái Nguyên xây dựng kế hoạch EUDR cấp tỉnh; Hỗ trợ số hóa dữ liệu vùng trồng, tăng truy xuất nguồn gốc; Đào tạo nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp sử dụng công cụ quản lý địa lý.
“Mục tiêu kép là tuân thủ quy định của EU và duy trì phát triển kinh tế – xã hội địa phương”, ông Oemar nhấn mạnh; đồng thời cho biết dự án còn chú trọng nâng cao nhận thức về EUDR, với việc đã tổ chức 5 hội thảo/webinar.
Theo ông Tuấn, EUDR yêu cầu phải có đủ dữ liệu để khai báo, gồm ba nhóm thông tin: Bản đồ sử dụng đất – thuộc quản lý của Tổng cục Quản lý đất đai; Bản đồ hiện trạng rừng – thuộc hệ thống của Cục Lâm nghiệp; Thông tin chủ hộ, chủ sử dụng đất – nguồn từ cơ quan thống kê và chính quyền địa phương. Khi có đủ các nguồn dữ liệu này, chúng ta mới có thể khai báo bản đồ Polygon xác định vị trí lô hàng.
Do đó, việc thực thi EUDR đòi hỏi sự phối hợp liên Bộ, đặc biệt giữa Bộ Công Thương và Bộ Ngoại giao. Việc phối hợp không chỉ ở cấp bộ ngành trung ương, mà còn giữa các sở và chính quyền địa phương, nơi doanh nghiệp thu mua nguyên liệu và cần xác nhận thông tin. Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đề xuất đưa vấn đề chuẩn bị thực thi đáp ứng EUDR lên cấp Chính phủ thay vì chỉ trong phạm vi một bộ.
Ngoài chia sẻ về các chính sách, công cụ kiểm kê, giảm phát thải khí nhà kính; các tổ chức, đơn vị, cơ sở phát thải lớn còn thực hành kỹ thuật kiểm kê cho 4 lĩnh vực trọng điểm gồm: năng lượng; các quá trình công nghiệp; nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất; chất thải…
Thiên tai có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhưng thiệt hại không phải điều con người buộc phải chấp nhận. Chuyển từ tư duy ứng phó sang quản trị rủi ro, chủ động phòng ngừa và nâng cao kỹ năng cho người dân là những giải pháp quan trọng để xây dựng cộng đồng an toàn, có khả năng chống chịu tốt hơn...
Chuyển đổi xanh, phát triển xanh vừa là yêu cầu tất yếu, vừa là cơ hội để đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế...
Giữa vùng hoang mạc Gobi khắc nghiệt ở Mộc Lũy, Tân Cương, người Trung Quốc vừa cắm xuống lòng đất một “cục pin” khổng lồ, không phải lithium, không phải nước, mà là CO₂, thứ khí mà cả thế giới đang tìm mọi cách để cắt giảm...
Nguồn vốn này sẽ hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển tại Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam chuyển dịch từ mô hình phát điện phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch phát thải cao sang nền kinh tế dựa trên năng lượng tái tạo...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.