
Việt Nam cần lập kế hoạch đề phòng cho những tình huống xấu như FDI và kiều hối giảm, sự đảo chiều của các dòng vốn…
Tâm điểm của chủ đề thị trường vốn tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam năm nay (tổ chức ngày 1/12 tại Hà Nội) là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới, ứng phó và yêu cầu chủ động của nhà điều hành chính sách để giảm thiểu những thiệt hại.
Theo tham luận của hai chuyên gia Terence Mahony và Dominic Scriven, trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, Chính phủ và các cơ quan hữu quan Việt Nam cần chủ động lường tính trước các tình huống và có các phương án đề phòng.
Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước cần thu thập thông tin về các khoản tiền có nguồn gốc nước ngoài được gửi hoặc cho vay tại Việt Nam. Cơ quan này cũng cần phân tích các dòng tiền có thể rút ra nhiều nhất trong vòng 1 tháng, 3 tháng, lượng định để có kế hoạch đối phó với tình huống xấu nhất.
Trong năm 2009, dù không đề cập sâu đến các dự báo, nhưng các chuyên gia của nhóm Thị trường vốn trong khuôn khổ diễn đàn nói trên khuyến nghị Chính phủ cần lập ra kế hoạch cụ thể đối với các tình huống xấu như lượng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) giảm, kiều hối giảm, và đánh giá xác suất các tình huống đó.
Song song với khuyến nghị trên, một điểm được nhấn mạnh là Chính phủ cần công bố các biện pháp quản lý kinh tế vĩ mô và thực thi nhất quán, giúp các doanh nghiệp, nhà đầu tư có định hướng và niềm tin vào chính sách.
Nhìn lại tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thời gian qua, hai chuyên gia nói trên cũng cho rằng Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực ứng phó cần thiết và đáng được ca ngợi.
“Việt Nam chứng tỏ rằng có khả năng đương đầu với khủng hoảng tốt hơn các nước châu Á khi khủng hoảng năm 1998, và hơn các nước đã phát triển hiện nay với các giấy tờ có giá độc hại”, báo cáo của nhóm Thị trường vốn đánh giá.
Cụ thể, khi thị trường tài chính thế giới bắt đầu rệu rã thì Việt Nam đã đi được một quãng đường khá dài trong việc xử lý “bong bóng” của chính mình xuất hiện từ đầu năm 2008. Đó là diễn biến sụt giảm liên tục của giá cổ phiếu, lạm phát phi mã, tín dụng ngân hàng ngoài tầm kiểm soát, thâm hụt trầm trọng cán cân thương mại, đồng nội tệ gần như tiến đến khủng hoảng không tránh khỏi.
Về cơ bản chặng đường khó khăn nhất đã được xử lý. Đó cũng là cơ sở để diễn đàn lần này cho rằng những nỗ lực của Chính phủ “đáng được ca ngợi”.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính dự báo sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến Việt Nam. Bị ảnh hưởng nhiều nhất, theo những phân tích đưa ra tại Diễn đàn, sẽ là khu vực kinh tế chứ không phải là thị trường tài chính. Khi tăng trưởng toàn cầu sụt giảm, xuất khẩu của Việt Nam (78% GDP) sẽ giảm theo, làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP.
Với thị trường chứng khoán Việt Nam, trong ngắn hạn có khả năng gặp rủi ro không được coi là nơi lựa chọn để đầu tư, do trên toàn cầu đang diễn ra quá trình giảm thiểu đòn bẩy tài chính và bán các danh mục đầu tư, đặc biệt là ở các thị trường mới nổi khi cổ phiếu được bán và vốn quay trở lại các nước đã phát triển.
Ngoài ra, một yếu tố được đề cập đến trong báo cáo của nhóm Thị trường vốn là sự cạnh tranh từ các thị trường tài chính châu Á khác, do một số thị trường được coi là rẻ hơn thị trường Việt Nam. “Tuy nhiên, ở tầm nhìn trung và dài hạn, Việt Nam có lẽ vẫn là một trong những thị trường mới nổi hấp dẫn nhất”, báo cáo nhận định.
Nhưng để phục hồi sự hấp dẫn đó, “cũng cần phải nói rằng ở thị trường non trẻ và đang phát triển như ở Việt Nam, sự ổn định sẽ khó đạt hơn so với các thị trường lâu năm, có xu hướng thay đổi đột ngột, quá mức. Mặc dù vậy, với nền kinh tế đang phát triển của Việt Nam, những suy giảm khi đầu tư sẽ được bù đắp lại với thời gian, với điều kiện những khoản đầu tư đó có nền tảng vững chắc”.
Trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, ngoài khuyến nghị về kế hoạch đề phòng trước những tình huống xấu có thể xẩy ra như đã đề cập, các chuyên gia của nhóm Thị trường vốn cho rằng Việt Nam vẫn có lợi thế riêng để có thể tránh được hoặc chịu mức độ tác động chung ít hơn.
Đó là lợi thế của một “ốc đảo” trong thị trường chứng khoán toàn cầu với ý nghĩa là thị trường chứng khoán Việt Nam có độ tương quan thấp với các thị trường mới nổi khác, hoặc các thị trường đã phát triển.
Lợi thế này thể hiện ở chỗ thị trường chứng khoán Việt Nam tự đánh giá mình dựa vào khả năng phát triển của chính mình hơn là phụ thuộc vào xu hướng của các thị trường khác.
Định giá vẫn ở mức hỗ trợ, với P/E dự phóng năm 2026 ở mức trên 10 lần, cho thấy các cơ hội chọn lọc vẫn còn hiện hữu...
Đóng góp quan trọng nhất mà VIFC-HCMC có thể mang lại cho tăng trưởng kinh tế quốc gia không đơn thuần là thu hút thêm dòng vốn, mà trở thành nền tảng đáng tin cậy để dòng vốn khu vực và toàn cầu lưu chuyển qua đó...
"Dù những bất định từ bên ngoài có thể tiếp tục tạo ra biến động trong ngắn hạn, niềm tin của chúng tôi vào triển vọng trung và dài hạn của thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn không thay đổi. Quỹ sẽ tiếp tục giải ngân một cách kiên nhẫn", Lumen Vietnam Fund nhấn mạnh.
Bức tranh tổng thể được phản ánh rõ với 70% cổ phiếu thuộc VN-Index tương đương 274 mã trên tổng số 396 mã ghi nhận biến động giảm so với cuối năm 2025, 5 mã đi ngang và chỉ có 117 mã tăng giá.
Mỗi khi thị trường biến động mạnh, nhà đầu tư thường tìm đến những nơi trú ẩn quen thuộc: trái phiếu kho bạc Mỹ, đồng yên Nhật Bản và vàng. Nhưng trong năm 2026, chiến lược này không còn phát huy tác dụng như trước...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.