Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong không khí thiêng liêng ấy, trước hàng vạn đồng bào đang sống trong niềm xúc động và hy vọng, bản Tuyên ngôn đã khẳng định một chân lý bất diệt: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
TỪ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ ĐẾN QUYỀN LÀM CHỦ NGUỒN LỰC QUỐC GIA
Từ những quyền cơ bản của con người, Tuyên ngôn khẳng định quyền độc lập, tự do, tự quyết của dân tộc Việt Nam. Đó chính là điều kiện tiên quyết để một quốc gia thực thi quyền làm chủ đối với lãnh thổ, tài nguyên, hệ thống tiền tệ và các năng lực phát triển chiến lược.
Việc khẳng định Việt Nam là một quốc gia độc lập, có quyền tự quyết về con đường phát triển và vận mệnh của mình đã tạo nền tảng chính trị – pháp lý quan trọng để Nhà nước xác lập và thực thi quyền quản lý, khai thác, bảo vệ lãnh thổ cùng các nguồn lực gắn liền với lãnh thổ. Dưới chế độ thuộc địa, nhiều tài nguyên và hoạt động kinh tế bị khai thác phục vụ lợi ích của chính quốc; người Việt Nam hầu như không có quyền quyết định đối với nguồn lực của mình.
Tuyên ngôn Độc lập đã mở ra quá trình đấu tranh giành lại quyền lãnh thổ và tài nguyên, tạo nền tảng vật chất cho phát triển. Đặc biệt sau khi đất nước thống nhất, Việt Nam từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế quản lý đất đai, rừng, khoáng sản, biển, nguồn nước và các tài nguyên khác.
Luật Đất đai qua các lần sửa đổi tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, đồng thời tạo điều kiện để đất đai trở thành nguồn lực phát triển.
Phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển trở thành định hướng chiến lược; quản lý dầu khí, khoáng sản và các tài nguyên chiến lược được thực hiện theo hướng bảo đảm lợi ích quốc gia, nâng cao hiệu quả sử dụng và an ninh năng lượng. Cùng với đó, bảo vệ rừng, nguồn nước và môi trường sinh thái ngày càng được coi trọng nhằm duy trì nguồn lực lâu dài cho phát triển.
Tài nguyên của đất nước chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển khi được quản trị bằng thể chế hiện đại, dữ liệu minh bạch và công nghệ tiên tiến; phải chuyển từ khai thác thô sang chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng và biến lợi thế tự nhiên thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Muốn đổi mới mô hình phát triển theo Nghị quyết số 19-NQ/TW, càng phải quản trị tài nguyên hiệu quả, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tổ chức lại không gian phát triển quốc gia và xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Chủ quyền lãnh thổ và tài nguyên vì vậy không chỉ tạo nền tảng vật chất cho chủ quyền kinh tế, mà còn đặt ra yêu cầu quản trị hiện đại để chuyển hóa nguồn lực tự nhiên thành sức mạnh nội sinh cho tăng trưởng nhanh, bền vững và tự chủ chiến lược.
TỪ QUYỀN TỰ QUYẾT ĐẾN NĂNG LỰC TỰ CHỦ VỀ TIỀN TỆ VÀ CÔNG NGHỆ
Từ quyền tự quyết quốc gia được xác lập sau năm 1945, Việt Nam từng bước xây dựng hệ thống tiền tệ và tài chính của một quốc gia độc lập. Chủ quyền tiền tệ thể hiện ở khả năng phát hành đồng tiền quốc gia và chủ động sử dụng các công cụ chính sách để điều hành lãi suất, tỷ giá, cung tiền, kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
Qua các giai đoạn lịch sử, hệ thống ngân hàng và chính sách tiền tệ ngày càng được hoàn thiện, góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng và bảo vệ lợi ích quốc gia.
Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào các dòng vốn, thương mại và thị trường tài chính toàn cầu. Hội nhập mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng gia tăng tác động từ biến động tỷ giá, dòng vốn, khủng hoảng tài chính, xung đột địa chính trị và đứt gãy chuỗi cung ứng.
Vì vậy, hội nhập không đồng nghĩa với từ bỏ năng lực tự chủ trong điều hành kinh tế. Duy trì chủ quyền tiền tệ chính là giữ vững không gian chính sách, khả năng ổn định vĩ mô và sức chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Cùng với tiền tệ, chủ quyền công nghệ ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực tự chủ trong thế kỷ XXI. Quyền tự quyết của một quốc gia không chỉ thể hiện ở lãnh thổ hay thể chế, mà còn ở khả năng nghiên cứu, tiếp nhận, cải tiến và làm chủ các công nghệ then chốt, hạn chế sự phụ thuộc có thể gây rủi ro đối với an ninh kinh tế và quốc phòng.
Những lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng mới, công nghệ số, công nghệ sinh học, vật liệu mới và nông nghiệp công nghệ cao ngày càng có ý nghĩa chiến lược.
Điều đó đòi hỏi phát triển mạnh khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW; xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ; phát triển nhân lực chất lượng cao; thu hút, trọng dụng nhân tài và nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng, thương mại hóa công nghệ trong nước.
Nếu thiếu năng lực công nghệ, nền kinh tế dễ phụ thuộc chuỗi cung ứng, giảm sức cạnh tranh và gia tăng rủi ro đối với an ninh kinh tế. Song song với đó, thu hút FDI theo Nghị quyết số 10-NQ/TW cần ưu tiên các dự án công nghệ cao, góp phần nâng cao năng lực nội sinh; kinh tế tư nhân theo Nghị quyết số 68-NQ/TW được khuyến khích phát huy năng lực đổi mới sáng tạo và nâng cao sức cạnh tranh.
Nhìn từ góc độ chủ quyền kinh tế, có thể thấy ba trụ cột quan trọng: chủ quyền lãnh thổ và tài nguyên tạo nền tảng vật chất; chủ quyền tiền tệ tạo công cụ điều tiết và ổn định kinh tế vĩ mô; chủ quyền công nghệ tạo động lực tăng trưởng, năng suất và sức cạnh tranh dài hạn. Ba trụ cột này bổ trợ chặt chẽ cho nhau và cùng phát triển từ tinh thần tự quyết được Tuyên ngôn Độc lập xác lập trong điều kiện mới của thế kỷ XXI.
Các nghị quyết gần đây của Đảng đều hướng tới mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 từ 10%/năm trở lên, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 khoảng 8.500 USD và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.
Trong kỷ nguyên mới, với khát vọng đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, tinh thần tự quyết của Tuyên ngôn cần được hiện thực hóa bằng năng lực tự chủ thực chất trên mọi lĩnh vực. Chỉ khi ba trụ cột lãnh thổ – tài nguyên, tiền tệ và công nghệ được củng cố đồng bộ, Việt Nam mới thực sự vững bước trên con đường xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự cường, xứng đáng với di sản thiêng liêng ngày 2 tháng 9 lịch sử và đáp ứng khát vọng phát triển hùng cường, thịnh vượng, văn minh, hạnh phúc của toàn dân tộc.




Trong cuộc gặp đại diện chuyên gia, trí thức người Việt tại Bỉ và Luxembourg, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chuyển từ tìm kiếm nguồn lực sang kết nối nguồn lực với nhu cầu thực tiễn, lấy kết quả và hiệu quả làm thước đo.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nhằm giải phóng sức sáng tạo, khơi thông nguồn lực và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước.
Việt Nam và Bỉ nhất trí làm sâu sắc hơn quan hệ song phương, hướng tới nâng cấp lên Đối tác chiến lược vào thời điểm thích hợp; thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và các lĩnh vực kinh tế có tiềm năng, thế mạnh của hai nước.
Chuyến thăm chính thức Liên minh châu Âu và Vương quốc Bỉ từ ngày 21 đến 24/10/2026 góp phần củng cố tin cậy chính trị, thúc đẩy triển khai khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – EU và mở rộng các hướng hợp tác với Bỉ. Các cuộc tiếp xúc và thỏa thuận trong chuyến thăm tập trung vào thương mại, đầu tư, công nghệ, chuyển đổi xanh và logistics.
Trưa 24/10 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời thủ đô Brussels, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Liên minh châu Âu (EU) và Vương quốc Bỉ.
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Sự hiện diện của AEON MALL Thanh Hóa đang tạo thêm sức hút cho thị trường tiêu dùng địa phương. Với hàng trăm cửa hàng thuộc nhiều lĩnh vực cùng hệ thống mua sắm, ẩm thực và giải trí đồng bộ, trung tâm góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng của người dân.