Tác động của đại dịch covid-19 năm 2021 đến chuỗi cung ứng, về cơ bản là khác hoàn toàn so với năm 2020. Vấn đề mà các doanh nghiệp đang phải đối mặt trong suốt mấy tháng qua không phải về nguồn cung hay cầu mà chính ở các nhà máy sản xuất.
Trên thực tế, các thị trường tiêu thụ của Việt Nam đã hồi phục, nhưng các doanh nghiệp lại gặp khó ở việc, là làm sao để đảm bảo sản xuất, bởi tính chất nghiêm trọng của dịch bệnh khiến họ rất khó hoàn thành đơn hàng để giao cho khách.
Các sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm hơn 85% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, có tác động đến các ngành dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, logistics... và đặc biệt là tạo việc làm cho hàng chục triệu lao động trực tiếp cũng như gián tiếp trong các ngành nghề liên quan. Việc đứt gãy các chuỗi giá trị và cung ứng trong các ngành sản xuất sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến an sinh xã hội và nền kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn.
Đối với mặt hàng xuất khẩu có thị phần lớn như: điện tử, dệt may và da – giày, nếu không sớm có các giải pháp giúp doanh nghiệp khắc phục tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng trong nước, sớm quay trở lại sản xuất ngay, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nguy cơ khách hàng quốc tế sẽ dừng, huỷ đơn hàng để chuyển sang nước khác, và đến khi dịch được kiểm soát, doanh nghiệp khó có thể nối lại các mối quan hệ kinh doanh đã mất.
Khó khăn và thách thức lớn nhất mà các doanh nghiệp đang và sẽ phải đối mặt như thế nào? Tính phù hợp và hiệu quả của những giải pháp duy trì sản xuất và biện pháp hành chính áp dụng trong thời gian qua hỗ trợ hoặc/và gây khó khăn/cản trở ra sao đến hoạt động của doanh nghiệp?
Nếu được hiến kế các giải pháp cấp bách và lâu dài nhằm duy trì phương án vừa sản xuất vừa chiến đấu/sống chung an toàn với virus Sars-cov2 thì sẽ là các giải pháp nào?
Tất cả những băn khoăn và đề xuất nêu trên sẽ được nêu ra tại tọa đàm trực tuyến "Giải pháp cấp bách & lâu dài chống đứt gãy chuỗi cung ứng" do Tạp chí Kinh tế Việt Nam- VnEconomy tổ chức sẽ diễn ra vào lúc 20h00 ngày 7/8 trên VnEconomy và Fanpage VnEconomy, với sự tham gia của các chuyên gia và lãnh đạo các doanh nghiệp, hiệp hội các ngành nghề.
Nội dung tọa đàm sẽ được phát trực tuyến vào lúc 20h00 ngày 7/8 trên VnEconomy và Fanpage VnEconomy.
Cùng với đó, toàn bộ nội dung tọa đàm cũng được thể hiện trên chuyên mục Tiêu điểm của số 57 (6165) Tạp chí Kinh tế Việt Nam phát hành ngày 9/8/2021 và cập nhật trên VnEconomy.
Trân trọng kính mời quý độc giả quan tâm theo dõi!




Các đại biểu cho rằng cần cụ thể hóa tiêu chí xác định cấp độ rủi ro trên cơ sở tính chất, mức độ quan trọng của dữ liệu, để bảo đảm tính khoa học, thống nhất và khả thi trong thực tiễn. Mục tiêu không chỉ là giảm số lượng thủ tục hành chính, mà phải giảm thực chất nghĩa vụ tuân thủ trùng lặp, kết hợp giữa tiền kiểm, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình...
Đóng góp ý kiến vào dự án Luật Định danh và xác thực điện tử, Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung quy định bảo đảm quyền tự chủ, kiểm soát danh tính điện tử của người dân, đồng thời giới hạn việc thu thập dữ liệu cá nhân và sinh trắc học ở mức tối thiểu cần thiết cho từng giao dịch có mục đích hợp pháp…
Việt Nam và Ba Lan chính thức thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược, thông qua Kế hoạch hành động giai đoạn 2026–2030, với mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương đạt 6 tỷ USD vào năm 2030; mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, đầu tư, khoa học – công nghệ và chuyển đổi xanh.
Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk, hai nước nhất trí thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược, thông qua Kế hoạch hành động giai đoạn 2026-2030, đồng thời đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 6 tỷ USD vào năm 2030.
Việt Nam và Ba Lan xác định kinh tế, thương mại và đầu tư là những trụ cột trong quan hệ Đối tác chiến lược vừa được thiết lập; nhất trí tăng cường hợp tác khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và triển khai Kế hoạch hành động chung giai đoạn 2026–2030.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.