Thị trường carbon có rất nhiều tiềm năng và đóng vai trò chiến lược đối với Việt Nam, không chỉ trong lộ trình đạt được các mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính mà còn giúp thúc đẩy quá trình thu hút các nguồn tài chính để hỗ trợ chuyển dịch theo hướng kinh tế xanh, phát triển bền vững.
CƠ HỘI GIẢM CHI PHÍ, THU HÚT ĐẦU TƯ XANH, NÂNG CAO CẠNH TRANH TRÊN THỊ TRƯỜNG
Theo lộ trình đặt ra, Việt Nam sẽ thí điểm thị trường carbon đến năm 2028. Tại tọa đàm về vấn đề này, Cục Biến đổi khí hậu cho biết trong giai đoạn thí điểm thị trường carbon, Việt Nam sẽ tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực có mức phát thải lớn như nhiệt điện, sắt thép và xi măng.
Mục tiêu chính trong giai đoạn thí điểm là giúp các doanh nghiệp, đặc biệt là các cơ sở phát thải lớn, làm quen với các khái niệm, nguyên tắc và cơ chế vận hành của thị trường carbon, cũng như các quy trình liên quan đến kiểm kê, báo cáo và tuân thủ phát thải khí nhà kính.
Thị trường carbon của Việt Nam trong giai đoạn thí điểm có một số điểm đặc trưng. Trước hết, mục tiêu trọng tâm của giai đoạn này là giúp các doanh nghiệp làm quen với cơ chế vận hành của thị trường, đồng thời giảm gánh nặng chi phí tuân thủ. Vì vậy, hạn ngạch phát thải khí nhà kính sẽ được phân bổ miễn phí cho các doanh nghiệp.
Với các thị trường đã bước vào giai đoạn hoàn thiện tại nhiều quốc gia như châu Âu, Trung Quốc hay Hàn Quốc, việc phân bổ hạn ngạch chủ yếu được thực hiện thông qua đấu giá. Cách tiếp cận này được đánh giá là thận trọng, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế trong giai đoạn khởi đầu.
Bên cạnh đó, cơ chế thí điểm được thiết kế với mức độ linh hoạt cao. Doanh nghiệp được phép vay mượn hạn ngạch giữa các giai đoạn, chuyển giao hạn ngạch chưa sử dụng sang giai đoạn sau, cũng như sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ cho phần phát thải vượt hạn ngạch.
Mặt khác, doanh nghiệp cũng được phép chuyển giao lượng hạn ngạch phát thải khí nhà kính chưa sử dụng hết sau khi hoàn thành nộp trả của giai đoạn hiện tại sang giai đoạn kế tiếp. Những cơ chế này giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch đầu tư giảm phát thải, nhất là khi nhiều giải pháp công nghệ cần thời gian để phát huy hiệu quả.
Theo bà Nguyễn Hồng Loan, Giám đốc Công ty TNHH Kiến tạo Khí hậu xanh (GreenCIC), “nếu không có thị trường carbon, các doanh nghiệp vẫn phải thực hiện các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính theo quy định pháp luật trong nước và các yêu cầu từ thị trường quốc tế mà doanh nghiệp tham gia xuất khẩu”.
Tuy nhiên khi tham gia thị trường carbon sẽ cung cấp cho doanh nghiệp các cơ hội linh hoạt hơn để đáp ứng các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính. Chuyên gia này phân tích, không phải doanh nghiệp nào cũng có năng lực, và nguồn vốn để có thể chuyển đổi công nghệ ngay lập tức.
Thị trường carbon bên cạnh việc giúp các doanh nghiệp tự giảm phát thải khí nhà kính còn có thể mua hạn ngạch hoặc tín chỉ carbon trên thị trường. Qua đó, doanh nghiệp có thể tối ưu hóa chi phí, tránh được các “cú sốc” về kinh tế và có lộ trình xây dựng chiến lược chuyển đổi công nghệ để đạt được mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính.
Kết quả nghiên cứu mới đây do GreenCIC thực hiện trong khuôn khổ Chương trình Chuyển đổi Năng lượng Đông Nam phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), ước tính với việc vận hành thị trường carbon trong nước có thể giúp các doanh nghiệp giảm chi phí từ 400- 800 triệu USD để đầu tư vào các công nghệ giảm phát thải khí nhà kính.
Cùng với đó, nếu tham gia vào thị trường carbon quốc tế, Việt Nam có thể có tiềm năng thu hút được đầu tư từ 500 triệu đến 2 tỷ USD từ các nguồn hỗ trợ tài chính quốc tế về khí hậu và chuyển đổi xanh.
Theo Cục Biến đổi khí hậu, thị trường carbon ngoài giúp tăng cường giảm phát thải khí nhà kính với chi phí hiệu quả nhất còn giúp các doanh nghiệp, nhà đầu tư tiếp cận được các nguồn vốn xanh, tăng cường năng lực cạnh tranh.
Hiện nay, không chỉ Liên minh châu Âu mà nhiều quốc gia khác trên thế giới đã và đang cân nhắc xây dựng các hàng rào kỹ thuật khí hậu. Các doanh nghiệp tham gia thị trường carbon sẽ sớm làm quen với công bố dữ liệu, kiểm kê khí nhà kính, thực hiện đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) lượng giảm phát thải.
Bên cạnh đó, khi các doanh nghiệp chủ động đầu tư giảm phát thải khí nhà kính sẽ được dán nhãn xanh, được cộng đồng quốc tế công nhận, tạo ra ưu thế nhất định cho hàng hóa tham gia chiếm lĩnh thị trường.
Không những thế, hiện nay, chuyển dịch xanh, đầu tư xanh đã trở thành xu thế bắt buộc. Các ngân hàng, tổ chức tài chính trên thế giới đã đưa ra nhiều tiêu chí về môi trường, khí hậu. Vì vậy, những doanh nghiệp chủ động tham gia thị trường carbon sẽ có thuận lợi hơn khi tiếp cận các nguồn tài chính này.
NHỮNG KHÓ KHĂN KHI THAM GIA THỊ TRƯỜNG, GIẢM PHÁT THẢI, TIẾP CẬN NGUỒN LỰC XANH
Với tiềm năng này, bà Loan cho rằng các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có cơ hội để tham gia vào thị trường carbon.
Tuy nhiên, thị trường carbon ở Việt Nam sẽ được vận hành theo lộ trình từng bước và có sự kiểm soát. Vì vậy trong giai đoạn đầu thí điểm, đối tượng tham gia thị trường là các doanh nghiệp trong 3 lĩnh vực chính như: nhiệt điện, sản xuất sắt thép, xi măng sẽ được tham gia trực tiếp vào thị trường, đặc biệt là các cơ sở nằm trong danh mục phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính và được phân bổ hạn ngạch phát thải.
Những doanh nghiệp này vừa có nghĩa vụ tuân thủ nhưng cũng là động lực để tham gia trực tiếp vào thị trường tạo cơ hội để giảm phát thải khí nhà kính với mức chi phí tối ưu.
Ngoài ra, những doanh không thuộc 3 lĩnh vực này cũng có thể tham gia vào thị trường carbon thông qua việc thực hiện các dự án giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, hấp thụ carbon, tạo tín chỉ carbon để cung ứng cho thị trường trong nước hoặc quốc tế, khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tiêu chuẩn, đo đạc - báo cáo - thẩm tra (MRV).
Ngoài vấn đề chi phí, khó khăn chủ yếu khi tham gia thị trường liên quan đến số liệu, dữ liệu, đo đạc, báo cáo thẩm định phát thải đảm bảo độ tin cậy, chính xác và tính minh bạch. Doanh nghiệp cần bảo đảm dữ liệu phát thải minh bạch, chính xác và nhất quán, vừa đáp ứng yêu cầu của cơ quan quản lý trong nước, vừa có khả năng tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế nếu muốn tham gia thị trường carbon, tiếp cận nguồn vốn xanh.
Trong giai đoạn thí điểm, người dân có thể tham gia thị trường thông qua các đại diện là tổ chức, doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, chủ rừng, hoặc các chương trình, dự án carbon trong lĩnh vực lâm nghiệp, nông nghiệp, năng lượng tái tạo hay quản lý chất thải. Cách tiếp cận này giúp giảm chi phí giao dịch, đồng thời bảo đảm thị trường vận hành một cách chuyên nghiệp hơn.
Sau giai đoạn thí điểm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá hiệu quả vận hành, cơ quan quản lý nhà nước có thể từng bước mở rộng phạm vi và đối tượng tham gia, cả về ngành, lĩnh vực và loại hình chủ thể, qua đó hình thành một thị trường carbon ngày càng hoàn chỉnh, minh bạch và hiệu quả hơn.
Mặc dù thị trường mở ra nhiều cơ hội tiềm năng nhưng để tham gia, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những khó khăn. Chia sẻ điều này, bà Loan cho biết trong quá trình làm việc với các doanh nghiệp, ngoài vấn đề chi phí, khó khăn chủ yếu liên quan đến số liệu, dữ liệu, đo đạc, báo cáo thẩm định phát thải đảm bảo độ tin cậy, chính xác và tính minh bạch. Điều này nhằm đảm bảo tuân thủ theo các quy định trong nước hoặc thị trường xuất khẩu.
Theo các chuyên gia, doanh nghiệp cần bảo đảm dữ liệu phát thải minh bạch, chính xác và nhất quán, vừa đáp ứng yêu cầu của cơ quan quản lý trong nước, vừa có khả năng tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế nếu muốn tham gia thị trường carbon hoặc tiếp cận nguồn vốn xanh.
Ngoài ra, khung pháp lý quy định về thị trường carbon hiện vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và nhiều quy định mới liên tục được ban hành và cập nhật. Điều này khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc hình dung một cách tổng thể về nghĩa vụ tuân thủ, quyền lợi, cũng như các cơ hội và rủi ro khi tham gia thị trường. Khi có khung pháp lý đầy đủ, thông tin toàn diện, sẽ giúp doanh nghiệp có sự chuẩn bị tốt hơn.
Các doanh nghiệp cũng gặp khó khăn khi xây dựng chiến lược đầu tư, tham gia thị trường một cách hiệu quả, cũng như việc tích hợp các yêu cầu biến đổi khí hậu, giảm phát thải và thị trường carbon vào chiến lược sản xuất kinh doanh…
Không những thế, việc tăng cường năng lực, chuyển đổi công nghệ đòi hỏi phải đầu tư nguồn vốn nhất định. Mặc dù hiện nay trên thị trường đã có những quỹ đầu tư, nguồn tài chính xanh hỗ trợ nhưng các doanh nghiệp phải xây dựng quy trình, hồ sơ dữ liệu để đáp ứng các tiêu chí để nhận được nguồn hỗ trợ này.




Chính quyền Tổng thống Donald Trump đang tìm cách xem xét lại giấy phép của một dự án điện gió ngoài khơi tại bang Massachusetts, đánh dấu dự án thứ tư bị nhắm tới trong những tháng gần đây. Động thái này làm dấy lên lo ngại về nguy cơ gia tăng bất ổn đối với các dự án năng lượng và phá vỡ nỗ lực cải cách quy trình cấp phép tại Mỹ…
Để xử lý lượng tro bay từ các nhà máy điện rác, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết trong giai đoạn trước mắt vẫn được chôn lấp nhưng về lâu dài, thành phố định hướng chuyển từ chôn lấp sang tái chế, tận dụng tro bay làm nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng. Chậm nhất sau 2 năm thực hiện phương án chôn lấp, các nhà máy phải đưa ra giải pháp kỹ thuật xử lý tro bay...
Từ tái thiết nhà ở, phát triển hạ tầng năng lượng tại Thổ Nhĩ Kỳ đến xây dựng thành phố mới New Tashkent ở Uzbekistan, các nhà quy hoạch đang tìm cách giúp đô thị tăng khả năng chống chịu trước nắng nóng, hạn hán và những sức ép môi trường ngày càng lớn…
Đà Nẵng đang ưu tiên định hướng nguồn viện trợ vào các dự án kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời tăng cường tiếp nhận công nghệ xanh và đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, doanh nghiệp nhỏ và vừa...
Tại phiên chất vấn lĩnh vực môi trường, các đại biểu HĐND TP.Hà Nội tập trung đặt vấn đề những bất cập trong quy hoạch, phân cấp quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn. Thành phố xác định tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại, rà soát phương thức tổ chức dịch vụ vệ sinh môi trường, đẩy mạnh phân loại, thu gom, tái chế, hướng tới nâng cao hiệu quả xử lý rác thải và giảm dần chôn lấp…
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Các loại hình nhà ở người nước ngoài có thể tiếp cận; điều kiện giao dịch và hạn mức sở hữu tại từng dự án; những trở ngại khi mua, thuê hoặc bố trí chỗ ở cho chuyên gia… cùng những giải pháp tháo gỡ đã được đưa ra bàn thảo công khai.