Thưa ông, trong thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội đều đề cập việc phát triển kinh tế xanh, bền vững, kinh tế tuần hoàn. Ông nhìn nhận thế nào về thực trạng triển khai kinh tế tuần hoàn trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay?
Hiện nay, việc triển khai ứng dụng kinh tế tuần hoàn đã có những tín hiệu tích cực. Thực tế trong nhiều lĩnh vực đã xuất hiện những mô hình, sáng kiến áp dụng kinh tế tuần hoàn được các doanh nghiệp tự nguyện triển khai áp dụng. Điển hình ở lĩnh vực nông nghiệp với các mô hình thu gom xử lý tuần hoàn trong sản xuất café, cacao, tuần hoàn trong trồng lúa…
Bên cạnh đó, ở lĩnh vực dệt may đã có những doanh nghiệp đã áp dụng mô hình tuần hoàn để đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn của thị trường như châu Âu. Trong giao thông vận tải cũng đã xuất hiện các sáng kiến và mô hình kinh doanh tuần hoàn.
Các mô hình sáng kiến tuần hoàn hiện nay rất đa dạng, nhưng tôi cho rằng phần lớn chỉ tập trung ở dạng thu gom, tái chế là chính, chưa đi sâu vào các sáng kiến khác để thúc đẩy phát triển, đa dạng hóa các mô hình nhằm nâng cao giá trị kinh tế tuần hoàn.
Khi các mô hình kinh tế tuần hoàn chỉ tập trung vào hoạt động thu gom, tái chế tức là đang ở chu kỳ cuối của vòng đời sản phẩm. Tuy nhiên, chúng ta cần có cách tiếp cận từ trên xuống, có nghĩa ngay từ trong tư duy thiết kế ban đầu đã hình thành chiến lược kinh doanh, lồng ghép mô hình kinh tế tuần hoàn.
Trong thời gian tới, cần thúc đẩy phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn ngay từ khâu thiết kế đến khâu cuối cùng trong toàn bộ vòng đời sản phẩm. Theo đó, các doanh nghiệp cần lồng ghép kinh tế tuần hoàn ngay khi tư duy về sản phẩm, mô hình sản xuất. Khi đó, kinh tế tuần hoàn đã được lồng ghép và trở thành một chiến lược kinh doanh, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Đây cũng là yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp thích ứng, đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn xanh, bền vững của thị trường.
Việc thúc đẩy ứng dụng, phát triển các mô hình, sáng kiến kinh tế tuần hoàn sẽ mang lại nhiều giá trị cho cả doanh nghiệp, xã hội và môi trường. Đó cũng là mục tiêu, động lực mà các chính sách về về kinh tế tuần hoàn hướng tới.
Thưa ông, Việt Nam đã có Đề án Phát triển kinh tế tuần hoàn. Đầu năm 2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 222/QĐ-TTg về Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035. Theo ông, yếu tố nào để thúc đẩy sự tham gia, vào cuộc hơn nữa từ phía các doanh nghiệp là nhân tố quan trọng triển khai thực hiện kinh tế tuần hoàn?
Tôi cho rằng có nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ để thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn. Mặc dù hiện nay Việt Nam đã có các cơ chế chính sách cho phát triển kinh tế tuần hoàn, nhưng để áp dụng vào thực tiễn vẫn còn những vướng mắc cần tháo gỡ, trong đó có việc thiếu các tiêu chuẩn, quy chuẩn.
Thứ nhất, dưới góc độ chính sách, điểm khó nhất chính là việc nhận biết giữa chất thải và nguyên vật liệu. Điều này liên quan đến các quy chuẩn, đòi hỏi cần phải tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới. Khi có các quy chuẩn rõ ràng, chúng ta sẽ định danh được đâu là chất thải và có sự ứng xử phù hợp.
Thứ hai, nhận thức của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như trong cộng đồng dân cư về kinh tế tuần hoàn còn hạn chế.
Thứ ba, hành động của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Thực tế hiện nay vai trò và quyền lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi cung ứng chưa đủ mạnh để có thể thay đổi toàn bộ nhận thức của cả chuỗi cung ứng.
Ví dụ, đối tượng tham gia hoạt động tái chế, thu gom bao bì phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa - đang ở cuối của chuỗi cung ứng, nên không thể thay đổi cả hệ thống, chuỗi cung ứng của toàn thị trường. Để phát triển kinh tế tuần hoàn, những doanh nghiệp ở khâu đầu chuỗi cung ứng phải thay đổi thì mới kéo theo sự vào cuộc của cả chuỗi.
Do đó, tôi cho rằng cần phải có giải pháp, tư duy hệ thống để thúc đẩy sự tham gia vào cuộc, hành động thực sự của tất cả các mắt xích quan trọng, đóng vai trò chính trong chuỗi cung ứng thì mới tạo sự thay đổi hành động trong cả chuỗi.
Để thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, việc huy động nguồn lực tài chính, thị trường tiêu thụ sản phẩm… là rất quan trọng. Ông nhìn nhận thế nào về các vấn đề này hiện nay?
Tôi cho rằng khi áp dụng kinh tế tuần hoàn mà sản phẩm làm ra không tiêu thụ được thì sẽ là một thách thức lớn. Mục tiêu cuối cùng khi doanh nghiệp đầu tư vốn vào áp dụng tuần hoàn đó là sản phẩm phải bán được và mang lại lợi nhuận.
Vấn đề đặt ra với các sản phẩm, vật liệu tạo ra từ kinh tế tuần hoàn hiện nay là giá thành còn cao. Một trong những nguyên nhân là do công nghệ và quy mô sản xuất còn nhỏ, dẫn đến giá thành sản phẩm tăng. Bên cạnh đó là tâm lý và sự quan ngại của người tiêu dùng về sản phẩm từ tuần hoàn cũng dẫn đến việc tiêu thụ còn khó khăn.
Để giải quyết bài toán này, trước hết, nếu tập trung vào tái chế cần phải thúc đẩy quy mô hoạt động thu gom theo quy trình, có các chính sách hỗ trợ cho các hoạt động thu gom nhiều hơn, nhanh hơn, rẻ hơn, tái chế chất lượng hơn. Để thúc đẩy quá trình này, vai trò tham gia, liên kết của các hiệp hội ngành nghề, chuỗi cung ứng là rất quan trọng, chứ không chỉ có sự tham gia của lực lượng phi chính thức.
Bên cạnh đó, các chính sách, hành động phải tập trung vào hạ tầng phục vụ thu gom tái chế, tăng quy mô, chất lượng thu gom, phân loại tốt và có công nghệ xử lý tốt. Một yếu tố quan trọng khác là phải đưa ra các tiêu chuẩn, quy chuẩn với nguyên vật liệu thứ cấp, các sản phẩm tái chế.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh thực thi các biện pháp khuyến khích của Nhà nước, giúp giảm chi phí vận hành cho doanh nghiệp như chính sách tín dụng xanh, ưu đãi hỗ trợ lãi suất…
Tôi cho rằng yếu tố quan trọng nhất thu hút doanh nghiệp tham gia đó là để họ thấy được động lực từ đầu tư vào các sáng kiến kinh tế tuần hoàn; thúc đẩy triển khai các cơ chế chính sách để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, tiếp cận công nghệ và thị trường.
Hiện nay, nhiều ngân hàng đã đưa ra các gói hỗ trợ cho phát triển xanh nhưng cơ cấu nguồn vốn không chỉ ở các dự án năng lượng, nông nghiệp hữu cơ,… mà cần dịch chuyển mạnh mẽ sang cả các dự án khác thông qua tái chế, áp dụng chuẩn tuần hoàn trong nước và quốc tế.
Tại Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã nhấn mạnh việc đẩy mạnh phát triển tín dụng xanh; Nhà nước có cơ chế hỗ trợ lãi suất và khuyến khích các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho doanh nghiệp tư nhân vay để triển khai các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).
Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân cũng nêu rõ: doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được Nhà nước hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn ESG.
Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 156/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 116/2018/NĐ-CP. Nghị định 156 quy định khách hàng có dự án, phương án sản xuất - kinh doanh sản phẩm nông nghiệp hữu cơ theo quy định về nông nghiệp hữu cơ hoặc dự án, phương án sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp đáp ứng tiêu chí về kinh tế tuần hoàn theo quy định của pháp luật về kinh tế tuần hoàn được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa bằng 70% giá trị của dự án, phương án.
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 50-2025 phát hành ngày 13/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-50-2025.html
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.
Nông thôn đã đi một quãng dài từ chuyện đủ ăn, có điện, có đường, có trường, có trạm. Trên nền ấy, một lớp thay đổi khác đang hình thành: cánh đồng được quản trị bằng dữ liệu, phụ phẩm trở thành đầu vào mới, sản vật quê nhà có thương hiệu, có mã truy xuất, có thể bán qua một chiếc điện thoại. Nông nghiệp xanh và nông thôn thông minh gặp nhau ở những việc rất gần với người dân: làm ra nhiều giá trị hơn trên đất cũ, giảm phần phải bỏ đi, giữ môi trường sống và tiếp cận thị trường thuận lợi hơn.
Bắc Trung Bộ từng được biết đến là một trong những dải đất gặp nhiều khó khăn nhất Việt Nam do địa hình dẹp ngang, thiên tai khắc nghiệt và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dấu tích chiến tranh. Nhưng hôm nay, chính những yếu tố từng bị xem là bất lợi đang được đánh giá lại. Biển mở ra không gian kinh tế, Trường Sơn nối với các hành lang giao thương, còn cao tốc rút ngắn khoảng cách, tiết giảm chi phí logistics, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tài nguyên tự nó chưa tạo nên lợi thế. Giá trị xuất hiện khi con người biết tổ chức, kết nối và sử dụng tài nguyên đúng cách.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.