Tại cuộc họp, UBND và Sở Xây dựng các tỉnh đánh giá sự cần thiết phải sớm triển khai tuyến CT.33 trong bối cảnh nhu cầu kết nối vùng ngày càng lớn, trong khi hệ thống hạ tầng hiện hữu chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Các ý kiến cũng thống nhất lựa chọn phương án đầu tư theo phương thức PPP nhằm huy động nguồn lực xã hội trong điều kiện ngân sách còn hạn chế.
Công trình có tổng mức đầu tư sơ bộ trên 69.000 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 1 có kinh phí đầu tư dự kiến hơn 29.200 tỷ đồng; giai đoạn 2 có nguồn vốn dự kiến hơn 39.800 tỷ đồng (chưa bao gồm lãi vay). Thời gian thực hiện dự án: giai đoạn 1 hoàn thành trước năm 2030, giai đoạn 2 hoàn thành trước năm 2030 (nếu bố trí được nguồn vốn).
Về phía nhà đầu tư, đại diện Công ty cổ phần Tập đoàn Đèo Cả đề xuất dự án đầu tư theo phương thức PPP với ngân sách nhà nước góp 70%. Theo đề xuất này, công trình gồm 4 làn xe, đi qua địa phận TP.Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Ninh, Đồng Tháp, Vĩnh Long và TP. Cần Thơ. Nhà đầu tư cũng đề xuất các phương án: tuyến dài khoảng 154 km, tổng mức đầu tư 71.227 tỷ đồng; phương án tuyến dài 150,5 km, tổng mức đầu tư 68.278 tỷ đồng. Phân kỳ đầu tư tuyến cao tốc theo 2 giai đoạn: giai đoạn 1 làm mới 73 km đường cao tốc và mở rộng 13 km quốc lộ (60, 57C, 54, 91B); giai đoạn 2 làm mới 78 km đường cao tốc.
Về hướng tuyến, quy mô đầu tư và cơ chế phối hợp giữa các địa phương: Hướng tuyến được nghiên cứu theo hướng kết nối TP.Hồ Chí Minh với khu vực trung tâm đồng bằng, đi qua các tỉnh như Vĩnh Long, Đồng Tháp, TP. Cần Thơ và có khả năng kết nối xa hơn đến các tỉnh ven biển.
Một điểm đáng chú ý là các địa phương đã thống nhất nguyên tắc phân chia trách nhiệm trong quá trình triển khai dự án, từ công tác chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng đến tổ chức thực hiện.
Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Nguyễn Văn Hòa đồng ý phương án đầu tư và phân kỳ đầu tư tuyến cao tốc như đã trao đổi. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý cần đánh giá điểm kết nối cầu Đại Ngãi tránh ảnh hưởng các khu chức năng của TP. Cần Thơ, sau này làm cao tốc mà hạn chế các phương tiện khác qua cầu là rất khó, cũng như không khai thác hết công suất tuyến cao tốc.
Về phía đơn vị chủ quản chịu trách nhiệm đầu tư là UBND tỉnh Vĩnh Long, đại diện UBND TP. Cần Thơ đề nghị Vĩnh Long giữ vai trò điều phối và TP. Cần Thơ sẽ đồng hành cùng thực hiện đường cao tốc, góp phần vào phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, phía Cần Thơ đề nghị nên lựa chọn giải pháp kỹ thuật nghiên cứu cầu cạn đoạn 20 km qua TP. Cần Thơ do địa hình đất yếu.
Các bên cũng đã thống nhất tiếp tục hoàn thiện hồ sơ, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét chủ trương đầu tư, đồng thời nghiên cứu các cơ chế đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai trong giai đoạn tới.
Theo các phân tích tại cuộc họp, hiện nay kết nối giữa TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh ven biển miền Tây vẫn phụ thuộc lớn vào một số tuyến quốc lộ như quốc lộ 1 và quốc lộ 60 với năng lực hạn chế và thường xuyên quá tải. Trong khi đó, khu vực này đang nổi lên như một trung tâm sản xuất nông nghiệp, thủy sản lớn của cả nước, với nhu cầu vận chuyển hàng hóa ngày càng tăng.
Việc đầu tư tuyến cao tốc ven biển sẽ góp phần rút ngắn thời gian di chuyển, giảm chi phí logistics, đồng thời nâng cao năng lực kết nối giữa các địa phương trong vùng với TP.Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước.
Tuyến CT.33 còn được định hướng kết nối với các tuyến cao tốc trục ngang và trục dọc đang và sẽ được đầu tư trong khu vực, qua đó hình thành mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, tăng tính liên kết vùng. Đây cũng là tiền đề quan trọng để thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, đô thị và dịch vụ dọc theo hành lang ven biển.
Ngoài ra, việc hình thành một trục cao tốc mới còn giúp giảm áp lực cho các tuyến giao thông hiện hữu, đặc biệt trong bối cảnh nhiều công trình lớn như các cầu vượt sông Tiền, sông Hậu đang được đầu tư, dự báo sẽ làm gia tăng lưu lượng phương tiện trong thời gian tới. Đồng thời, dự án giao thông huyết mạch này được kỳ vọng tạo động lực mới tái cấu trúc không gian phát triển của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu, phát huy lợi thế kinh tế biển và nâng cao khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế lớn.
Hải Phòng đã đưa thêm 10 khu đất (đợt 2) tổng diện tích hơn 61ha vào thí điểm phát triển nhà ở thương mại…
Với hơn 41.000 người nước ngoài đăng ký tạm trú tại địa bàn, chủ yếu là chuyên gia và lao động tại các doanh nghiệp FDI, nhu cầu nhà ở và môi trường sống đồng bộ ngày càng rõ nét tại Bắc Ninh...
Số lượng người nước ngoài làm việc và sinh sống tại Việt Nam ngày càng tăng, nhưng thị trường nhà ở dành cho nhóm khách hàng này vẫn chưa phát triển tương xứng. Tại Bắc Ninh, khoảng cách giữa nhu cầu tiềm năng và khả năng tiếp cận nhà ở đang đặt ra nhiều vấn đề về nguồn cung, chính sách và dịch vụ…
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi và tháo gỡ nút thắt cho doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, Bộ Tài chính vừa có văn bản yêu cầu các địa phương khẩn trương rút ngắn thời hạn xử lý thủ tục giải thể doanh nghiệp…
Với quy mô hơn 35 ha, chiều dài bến khoảng 600 m và công suất thiết kế 2 triệu tấn hàng hóa mỗi năm, Cảng thủy nội địa Giang Biên được định hướng trở thành điểm gom, trung chuyển hàng hóa giữa Hà Nội, các khu công nghiệp phía Bắc và hệ thống cảng biển Hải Phòng...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.