Doanh nghiệp Việt hưởng lợi gì từ sự bùng nổ thương mại điện tử?
Bảo Bình
26/01/2026
Sự phát triển nhanh của các sàn thương mại điện tử nước ngoài, có khiến phần lớn giá trị kinh tế bị “chảy ra ngoài” và giá trị gia tăng từ lĩnh vực thương mại điện tử thực sự lưu lại trong nước được bao nhiêu…
Thương mại điện tử đang nổi lên như một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của kinh tế số Việt Nam. Không chỉ tăng nhanh về quy mô, lĩnh vực này còn tạo ra tác động lan tỏa mạnh mẽ tới doanh nghiệp, chuỗi cung ứng và các ngành dịch vụ hỗ trợ.
Những phân tích từ cơ quan quản lý cho thấy, phía sau các con số về GMV hay thị phần là một hệ sinh thái giá trị mà doanh nghiệp Việt đang tham gia ngày càng sâu.
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ, TRỞ THÀNH TRỤ CỘT CỦA KINH TẾ SỐ
Theo bà Nguyễn Thúy Anh, Phó Trưởng phòng Chuyển đổi số, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), thương mại điện tử luôn được xác định là một trụ cột của kinh tế số ngành công thương nói riêng và kinh tế số Việt Nam nói chung. Trong nhiều năm liên tiếp, tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực này luôn duy trì ở mức hai con số và tiếp tục tăng mạnh trong năm 2025.
Ước tính, quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 31 tỷ USD, tăng trưởng 25–25,5% so với năm trước và chiếm khoảng 10% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng. Đây là một bước tiến đáng kể nếu so với giai đoạn trước đại dịch, khi thương mại điện tử vẫn chủ yếu đóng vai trò bổ trợ cho bán lẻ truyền thống.
Sự tăng trưởng này phản ánh rõ nét sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng và phương thức kinh doanh. Mua sắm trực tuyến không còn là lựa chọn của riêng nhóm người trẻ ở đô thị lớn mà đã lan rộng tới nhiều nhóm dân cư, địa phương và ngành hàng.
Đối với doanh nghiệp Việt, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, thương mại điện tử mở ra một không gian thị trường mới, nơi rào cản gia nhập thấp hơn nhưng khả năng mở rộng quy mô lại lớn hơn rất nhiều so với kênh truyền thống.
Bên cạnh thị trường nội địa, thương mại điện tử xuyên biên giới cũng bắt đầu đóng góp rõ nét. Theo ước tính của cơ quan quản lý, năm 2024 xuất khẩu trực tuyến của Việt Nam đạt khoảng 1,7 tỷ USD và tăng lên khoảng 2 tỷ USD trong năm 2025. Con số này cho thấy thương mại điện tử đang trở thành một kênh bổ sung quan trọng, giúp doanh nghiệp Việt tiếp cận người tiêu dùng toàn cầu mà không cần đầu tư lớn vào hệ thống phân phối ở nước ngoài.
VAI TRÒ CỦA CÁC SÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ CÂU CHUYỆN “AI HƯỞNG LỢI”
Sự bùng nổ của thị trường thương mại điện tử gắn liền với vai trò trung tâm của các nền tảng lớn như Shopee, TikTok Shop hay Lazada. Đây là các kênh kết nối trực tiếp người bán và người mua, đồng thời định hình cách thức vận hành của toàn bộ thị trường.
Tuy nhiên, một câu hỏi thường được đặt ra là liệu sự phát triển nhanh của các sàn thương mại điện tử, đặc biệt là các nền tảng có yếu tố nước ngoài, có khiến phần lớn giá trị kinh tế bị “chảy ra ngoài” hay không và giá trị gia tăng từ lĩnh vực thương mại điện tử thực sự lưu lại trong nước được bao nhiêu. Theo phân tích của chuyên gia Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, bức tranh thực tế “khá cân bằng”.
Trước hết, xét về cơ cấu hàng hóa, nhập khẩu qua thương mại điện tử hiện vẫn chiếm tỷ trọng khá nhỏ. Năm 2025, giá trị nhập khẩu online ước khoảng 2,45 tỷ USD, trong khi tổng GMV toàn thị trường lên tới 31 tỷ USD. Như vậy, hàng hóa nhập khẩu chỉ chiếm chưa đến 10% tổng giá trị giao dịch. Điều này cho thấy phần lớn doanh thu trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam vẫn đến từ hàng hóa do doanh nghiệp trong nước sản xuất, kinh doanh.
Ở chiều ngược lại, các sàn thương mại điện tử cũng phải chi tiêu rất lớn tại thị trường Việt Nam để duy trì và mở rộng thị phần. Các chương trình khuyến mại, trợ giá, hỗ trợ người bán, đặc biệt là chiến lược tiếp thị liên kết (affiliate marketing) được triển khai quy mô lớn đã tạo ra nguồn thu đáng kể cho người bán, nhà sáng tạo nội dung, KOLs, KOCs và các đối tác Việt Nam.
PHÍ SÀN, LOGISTICS VÀ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở LẠI TRONG NƯỚC
Một vấn đề được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là mức phí sàn, có thể dao động từ 20–30% tùy mô hình và ngành hàng. Tuy nhiên, theo phân tích của cơ quan quản lý, cần nhìn phí sàn trong tổng thể cấu trúc chi phí và giá trị gia tăng. Thực tế này cho thấy, dù nền tảng có thể thu phí, nhưng dòng tiền không chỉ chảy theo một chiều.
Thứ nhất, không phải toàn bộ phí sàn đều là phần “chảy ra nước ngoài”. Một tỷ trọng đáng kể trong đó được sử dụng để chi trả cho các hoạt động vận hành tại Việt Nam, bao gồm hạ tầng kỹ thuật, nhân sự, chăm sóc khách hàng, chống gian lận và phát triển thị trường. Những hoạt động này tạo việc làm và thu nhập cho lao động trong nước.
Thứ hai, logistics – một trong những khâu quan trọng nhất của thương mại điện tử – gần như hoàn toàn do các doanh nghiệp Việt đảm nhiệm. Từ kho bãi, vận chuyển đường bộ, giao hàng chặng cuối đến thu hộ, hoàn trả, toàn bộ chuỗi dịch vụ logistics nội địa đang hưởng lợi trực tiếp từ sự gia tăng đơn hàng trực tuyến. Đây cũng là lĩnh vực chứng kiến sự phát triển nhanh của các doanh nghiệp công nghệ logistics Việt Nam trong những năm gần đây.
Thứ ba, thương mại điện tử kéo theo sự phát triển của nhiều ngành dịch vụ hỗ trợ khác như công nghệ thông tin, marketing số, sản xuất nội dung, thanh toán điện tử và phân tích dữ liệu. Phần lớn các dịch vụ này hiện do doanh nghiệp Việt cung cấp, góp phần làm tăng tỷ lệ giá trị gia tăng giữ lại trong nước.
Bên cạnh đó, công tác quản lý thuế cũng đang được siết chặt để đảm bảo thương mại điện tử đóng góp đầy đủ cho ngân sách. Theo quy định mới, các sàn thương mại điện tử đã thực hiện khấu trừ thuế tại nguồn đối với người bán. Trong lĩnh vực nhập khẩu, dù hàng hóa giá trị nhỏ dưới 2 triệu đồng được miễn thuế nhập khẩu, nhưng vẫn phải chịu thuế giá trị gia tăng. Những biện pháp này giúp hạn chế thất thu và tạo môi trường cạnh tranh công bằng hơn cho doanh nghiệp trong nước.
Từ góc độ chính sách dài hạn, bà Thúy Anh cho biết Luật Thương mại điện tử mới được thông qua với nhiều điểm mới, trong đó có yêu cầu các nền tảng nước ngoài đáp ứng tiêu chí nhất định phải thành lập hoặc chỉ định pháp nhân tại Việt Nam. Điều này được kỳ vọng sẽ giúp tăng cường trách nhiệm của nền tảng, bảo vệ người tiêu dùng và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp Việt phát triển bền vững.
Số hóa, khai thác kho tư liệu bằng AI, bảo đảm an ninh mạng và xác thực thông tin là những yêu cầu đặt ra đối với báo chí trong quá trình chuyển đổi số, đặc biệt với nguồn tư liệu nghiệp vụ được tích lũy qua nhiều năm của báo chí công an nhân dân…
Khi hạ tầng năng lượng ngày càng phụ thuộc vào dữ liệu và công nghệ điều khiển, bảo vệ hệ thống công nghệ thông tin, công nghệ vận hành công nghiệp và nâng cao năng lực ứng phó sự cố trở thành yêu cầu quan trọng đối với an ninh năng lượng quốc gia…
Với AI, doanh nghiệp có thể cải thiện năng suất, tối ưu hóa quy trình, gia tăng lợi nhuận và duy trì khả năng cạnh tranh. Tác động này diễn ra ở mọi quy mô, từ các tập đoàn lớn đến doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Ngược lại, những doanh nghiệp chậm thích ứng với công nghệ có nguy cơ đánh mất lợi thế và tụt lại phía sau thị trường…
Cloud và AI đang thay đổi nhanh cách ngân hàng xây dựng sản phẩm, vận hành hệ thống và khai thác dữ liệu. Nhưng khi hạ tầng trở nên phân tán hơn, kết nối nhiều hơn và phụ thuộc vào nhiều bên hơn, bài toán bảo mật cũng thay đổi…
Để hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hiệu quả cần có sự phối hợp của cả một hệ sinh thái dịch vụ, từ kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu, kể câu chuyện sản phẩm đến phát triển dữ liệu và chuyển đổi số…
Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, thị trường nhiều biến động, cần kết nối những xu hướng đang định hình kinh tế toàn cầu với các quyết định thực tế của doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách...
Từ một khóa học chuyển đổi số, Vàng Thị Mơi bắt đầu xây dựng dịch vụ thiết kế và hỗ trợ kinh doanh trực tuyến cho các hộ kinh doanh. Với Mơi, ứng dụng công nghệ số không chỉ là sử dụng AI hay mạng xã hội, mà còn giúp người dân giải quyết những nhu cầu thiết thực trong cuộc sống…
Trí tuệ nhân tạo đang tái định hình môi trường kinh doanh toàn cầu. Thách thức lớn nhất của doanh nghiệp không đơn thuần là ứng dụng AI, mà là nhận diện đúng cơ hội, tái định hình phương thức quản trị, đổi mới mô hình vận hành và chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành giá trị kinh doanh thực sự…
Ở mức cao nhất, hệ thống có thể tự động giải quyết thủ tục hành chính khi dữ liệu đủ để xác định người dân đáp ứng các điều kiện theo quy định. Khi đó, hệ thống chủ động xử lý và thông báo kết quả, người dân không phải tự khởi tạo và thực hiện từng bước thủ tục như trước…
Một trong những điểm nghẽn trong đào tạo nhân lực ngành bán dẫn là các trường đại học cùng phát triển nhiều lĩnh vực đào tạo, từ chương trình học đến hạ tầng, phòng thí nghiệm và đội ngũ giảng viên…