
Nhiều năm nay giá than Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam
(TKV) bán cho ngành điện đều thấp hơn giá thành. Do vậy, đơn vị này đề nghị tăng giá bán là điều tất yếu.
Đó là khẳng định của ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) trước đề nghị tăng giá bán than cho ngành điện của TKV.
TKV vừa có công văn gửi Bộ Tài chính, Công Thương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đề nghị sẽ tăng giá bán than cho sản xuất điện thêm khoảng 17%. Thời gian áp dụng là từ 1/1/2010. Với vai trò của người đứng đầu VEA, quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
Ngành điện hiện đang là khách hàng lớn nhất của ngành than. Mỗi năm nhiệt điện sử dụng khoảng 10 triệu tấn than cám từ 4b tới cám 6b.
Theo tổng sơ đồ điện VI đã được Chính phủ phê duyệt, hết tổng sơ đồ VI nguồn nhiệt điện bổ sung thêm cho lưới điện quốc gia là khoảng 13.800 MW. Như vậy, lượng than ngành điện sử dụng những năm tới sẽ rất lớn.
Tuy nhiên, từ trước tới nay ngành than luôn bán than cho ngành điện thấp hơn giá thành. Do đó việc tăng giá than bán cho ngành điện là cần thiết và chủ trương này cũng đã được Chính phủ thông qua.
Như vậy, ông cho rằng mức tăng ngay 17% như TKV đề xuất là có thể chấp nhận?
Nhìn nhận một cách thẳng thắn thì cả chục năm nay ngành than khá “thiệt thòi” khi luôn bán than cho ngành điện với giá chỉ khoảng 1/2 giá thị trường. Vì vậy, mức tăng như TKV đề nghị cũng không phải là quá cao.
Nhưng tăng giá than sẽ khiến giá điện tăng theo và đời sống của nhân dân sẽ bị ảnh hưởng nên việc tăng này cần phải có lộ trình. Theo tôi, trong năm 2010, TKV chỉ nên tăng khoảng 10% sau đó tiếp tục điều chỉnh cho đến khi tiệm cận với giá thị trường.
Hiện nay đã có không ít ý kiến cho rằng, rất khó có thể biết được chính xác giá thành sản xuất của TKV nên mức tăng đề xuất của đơn vị này có thể là chủ quan. Ý kiến của ông như thế nào, thưa ông?
Giá thành sản xuất của TKV, Kiểm toán Nhà nước có thể kiểm tra. Bộ Tài chính cũng có thể tính toán được. Cơ sở của giá chính là các yếu tố cấu thành nên sản phẩm như: Lương công nhân, khấu hao máy móc, mua sắm thiết bị, các loại thuế khác... Do đó, TKV hoàn toàn không “bốc thuốc” khi đưa ra mức đề xuất tăng giá nêu trên.
Trên thực tế, hiện nay TKV chỉ có lãi đối với các loại than cám tốt đang xuất khẩu là cám 2, cám 3, than đá….
Thêm nữa, tuy TKV là đơn vị duy nhất cung cấp than cho ngành điện, nhưng ở đây không có sự độc quyền vì giá bán than cho ngành điện là do Chính phủ quy định.
Giá than bán cho ngành điện tăng sẽ làm tăng giá điện. Kéo theo điều này các loại hàng hóa khác sẽ phải tăng giá, lạm phát trong năm 2010 sẽ cao. Ông nghĩ sao?
Giá điện sẽ phải tăng tương ứng với mức tăng của giá than. Nếu giá than tăng 10%, giá điện cũng sẽ tăng khoảng chừng đó.
Điện tăng sẽ làm cho nhiều hàng hóa, dịch vụ khác sẽ tăng theo, khiến lạm phát cao. Vì vậy, Bộ Công Thương và Bộ Tài chính là hai cơ quan giúp việc của Chính phủ cần phải xem xét để đưa ra mức tăng hợp lý nhất.
Theo quan điểm của tôi, việc tăng giá than và giá điện là cần thiết tuy nhiên cần phải có lộ trình. Vì nếu lợi nhuận quá ít, hai ngành này sẽ không thể có tích lũy để tái đầu tư. Trong khi đó mỗi năm, các ngành này đều cần nguồn vốn tới vài chục tỷ USD để phát triển. Khi muốn vay vốn các tổ chức tiền tệ lớn như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đều phải có vốn đối ứng tương đương với các khoản vay.
Năm nay, do hạn hán, thủy điện sẽ phải giảm lượng điện năng cung cấp, phần thiếu hụt này nhiệt điện sẽ phải gánh vác. Trong khi đó, chi phí để sản xuất 1kWh điện bằng dầu là khoảng 2.000 đồng (tương đương 7-8 cent), nhưng giá bán hiện nay chỉ là 6 cent. Như vậy, ngành điện cũng đang phải bù lỗ rất nhiều.
Sự hiện diện của các sản phẩm OCOP và đặc sản xứ Lạng tại Không gian 62 Tràng Tiền không chỉ mang đến trải nghiệm ẩm thực độc đáo cho người dân Thủ đô, mà còn tạo sức bật mạnh mẽ cho hàng Việt thông qua sự kết hợp giữa trưng bày trực tiếp và livestream thương mại điện tử...
Chính phủ Ấn Độ đã chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam. Quyết định này không chỉ tạo cơ hội đa dạng hóa thị trường, nâng cao giá trị sầu riêng Việt Nam mà còn góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác nông nghiệp, thương mại giữa hai nước...
Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Dù vậy, ngành vẫn gặp khó do giá giảm và rào cản thương mại gia tăng. Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng yêu cầu toàn ngành đẩy mạnh tái cơ cấu, nâng cao chất lượng sản phẩm để vượt qua thách thức, quyết tâm hoàn thành mục tiêu xuất khẩu trên 74 tỷ USD cả năm 2026...
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Chuỗi sản xuất toàn cầu đang tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động của chính sách thuế quan, AI và yêu cầu an toàn chuỗi cung ứng. Trước sự dịch chuyển cạnh tranh từ chi phí giá rẻ sang năng lực công nghệ của các nền kinh tế lớn, Việt Nam cần nâng chất dòng vốn FDI, hoàn thiện hệ sinh thái công nghiệp và phát triển lực lượng doanh nghiệp nội địa làm chủ các công đoạn giá trị cao...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.