Tại hội thảo trực tuyến "Nâng cao chuỗi giá trị ngành gỗ thông qua việc đẩy mạnh liên kết giữa khâu chế biến và vùng nguyên liệu bền vững và thị trường carbon: Từ góc nhìn vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long", ông Nguyễn Ngọc Thanh, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất thương mại và xây dựng Thiên Phát, đồng thời là Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định, cho rằng muốn nâng cao chuỗi giá trị ngành gỗ cần bắt đầu từ việc cơ cấu lại nguồn nguyên liệu rừng trồng.
Theo ông Thanh, hiện nay hầu hết các phân ngành như dăm gỗ, viên nén, ván nhân tạo, MDF (gỗ ép) hay chế biến gỗ đều sử dụng chung nguồn nguyên liệu chủ yếu là gỗ keo và gỗ cao su. Tuy nhiên, phần lớn nguyên liệu "chảy" vào dăm gỗ đang khiến doanh nghiệp chế biến sâu thiếu nguồn cung, làm giảm khả năng nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của toàn ngành.
Dẫn số liệu cụ thể, ông Thanh cho biết khoảng 80% nguyên liệu rừng trồng được sử dụng cho sản xuất dăm gỗ và viên nén, nhưng hai lĩnh vực này chỉ chiếm chưa đến 20% trong tổng giá trị xuất khẩu của toàn ngành gỗ. Trong khi đó, ngành chế biến sâu chỉ sử dụng khoảng 20% nguyên liệu nhưng chiếm hơn 80% giá trị xuất khẩu của toàn ngành.
"Giá trị lớn nhất của ngành lâm nghiệp là tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước để tạo nguồn thu ngoại tệ. Nếu phải nhập khẩu nguyên liệu, doanh nghiệp phải chi ngoại tệ trước rồi mới xuất khẩu để thu ngoại tệ về. Ngược lại, sử dụng nguyên liệu trong nước giúp đầu tư bằng đồng Việt Nam nhưng thu về bằng USD, mang lại lợi ích lớn cho nền kinh tế", ông Thanh phân tích.
Năng lực sản xuất dăm gỗ hiện nay đã đủ, không nên tiếp tục mở rộng công suất. Nếu phát triển thêm các nhà máy dăm gỗ sẽ dẫn tới cạnh tranh gay gắt về nguyên liệu, đẩy giá thu mua tăng cao nhưng hiệu quả kinh doanh lại giảm, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nguyên liệu của ngành chế biến sâu”.
Đồng quan điểm, ông Phạm Thành Long, Giám đốc thu mua nguyên liệu Công ty TNHH Triệu Thái Sơn nhấn mạnh, các doanh nghiệp chế biến sâu hiện có đầy đủ năng lực sản xuất, thị trường tiêu thụ và khả năng tạo giá trị xuất khẩu lớn, nhưng đang gặp khó khăn vì thiếu nguyên liệu.
"Tình trạng khai thác keo non khi mới 3-3,5 năm tuổi vẫn diễn ra phổ biến. Cùng với đó, nhiều cơ sở băm dăm, điểm thu mua và trạm cân tự phát sẵn sàng thu mua bằng mọi giá khiến thị trường nguyên liệu mất ổn định. Trong khi đó, các doanh nghiệp đầu tư bài bản về nhà xưởng, công nghệ và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường lại rơi vào thế bị động trong cuộc cạnh tranh thu mua nguyên liệu", ông Long nêu thực tế.
Về cơ chế chính sách thuế hiện nay, các doanh nghiệp chế biến gỗ cho biết vẫn còn bất cập, chưa thực sự tạo động lực cho chế biến sâu. Cụ thể, dăm gỗ xuất khẩu chỉ chịu thuế xuất khẩu 2% và được hoàn thuế giá trị gia tăng, trong khi doanh nghiệp chế biến sâu phải gánh nhiều chi phí đầu tư, thuế và nghĩa vụ tài chính lớn hơn.
Từ thực tế đó, các doanh nghiệp kiến nghị Nhà nước cần tổ chức lại toàn bộ thị trường nguyên liệu ngành gỗ theo hướng ưu tiên giá trị gia tăng. Theo đó, cần rà soát và chấn chỉnh hoạt động của các cơ sở băm dăm, điểm thu mua và trạm cân tự phát; kiểm soát chặt điều kiện pháp lý, môi trường và nguồn gốc nguyên liệu; đồng thời có chính sách khuyến khích người dân kéo dài chu kỳ trồng rừng từ 5-7 năm để hình thành vùng nguyên liệu gỗ lớn phục vụ chế biến sâu.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng đề xuất nghiên cứu điều chỉnh chính sách thuế và lộ trình điều tiết xuất khẩu dăm gỗ nhằm ưu tiên nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng xanh, chuyển đổi công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu số về vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững.
Nhấn mạnh việc kéo dài chu kỳ trồng rừng sẽ mang lại giá trị kinh tế cao hơn nhiều, ông Thanh cho biết doanh nghiệp hiện thu mua gỗ có đường kính từ 20 cm trở lên với giá khoảng 3 triệu đồng mỗi tấn. Trong một cây gỗ, chỉ khoảng một phần tư khối lượng được sử dụng cho chế biến sâu, phần còn lại vẫn có thể làm dăm gỗ và viên nén. Vì vậy, phát triển rừng gỗ lớn không mâu thuẫn với ngành dăm gỗ mà còn giúp gia tăng giá trị trên cùng một đơn vị nguyên liệu.
Tuy nhiên, một trong những hạn chế hiện nay của phát triển vùng nguyên liệu là cơ cấu cây trồng còn quá tập trung vào cây keo và bạch đàn, trong khi nhiều loài cây có giá trị kinh tế cao chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, ông Thanh kiến nghị cần đa dạng hóa loài cây trồng, ưu tiên phát triển các loài cây lưỡng dụng để vừa tạo nguồn thu trong quá trình sinh trưởng, vừa cung cấp gỗ nguyên liệu khi kết thúc chu kỳ khai thác.
Bên cạnh cao su, ông Thanh gợi ý cây ươi được đánh giá là loài cây có thể trồng ở nhiều vùng trên cả nước, không chỉ tiềm năng để trồng cây gỗ lớn, mà còn cho giá trị kinh tế cao từ quả với giá bán phổ biến khoảng 150.000 đồng/kg, có thời điểm lên tới 300.000 đồng/kg. Cây trám cũng là nguồn nguyên liệu phù hợp cho ngành sản xuất ván bóc, đồng thời quả trám có thị trường tiêu thụ ổn định.
Trong khi đó, cây gáo được đánh giá có tốc độ sinh trưởng nhanh, chất lượng gỗ cao hơn nhiều so với keo và có thể sử dụng trong sản xuất đồ gỗ nội, ngoại thất, ván lạng và gỗ ghép. Tuy nhiên, việc phát triển các loài cây này vẫn gặp trở ngại do tên gọi của cây ươi, cây trám và cây gáo trùng với một số loài gỗ rừng tự nhiên. Điều này khiến quy định pháp luật hiện hành chưa phân định rõ giữa gỗ rừng trồng và gỗ rừng tự nhiên, dẫn đến các thủ tục khai thác, vận chuyển còn phức tạp, gần tương tự như đối với gỗ rừng tự nhiên.
Vì vậy, ông Thanh kiến nghị cần hoàn thiện quy định pháp luật để tạo điều kiện phát triển các loài cây lâm nghiệp có giá trị cao. Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần sớm hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của cả doanh nghiệp lẫn người trồng rừng, tạo nền tảng cho các chuỗi liên kết bền vững.




Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Với khoảng 44.000 ha cà phê Arabica, Sơn La đang hướng tới phát triển ngành hàng theo hướng sinh thái, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị xuất khẩu. Trước thách thức của biến đổi khí hậu và các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, tỉnh xác định đẩy mạnh canh tác bền vững, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu đạt 100.000 tấn cà phê nhân vào năm 2030...
Vòng bán kết Cuộc thi Tài năng trẻ Logistics Việt Nam 2026 với sự góp mặt của 54 đội từ các trường đại học, cao đẳng trên cả nước, hứa hẹn sẽ mang đến những màn tranh tài hấp dẫn, khẳng định sức lan tỏa của sân chơi học thuật hàng đầu ngành logistics...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.