Hiện Malaysia là một trong những thị trường nhập khẩu có tiềm năng rất lớn của Việt Nam tại khu vực ASEAN. Malaysia là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam trong ASEAN và thứ 9 trên thế giới.
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và Malaysia 7 tháng năm 2023 đạt 7,07 tỷ USD, giảm mạnh tới 21,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,85 tỷ USD, cũng giảm tới 17,7% so với cùng kỳ, kim ngạch nhập khẩu đạt 4,21 tỷ USD giảm 24,0% so với cùng kỳ.
Điểm đáng khích lệ là nhập siêu từ Malaysia trong 7 tháng năm 2023 dù lên tới 1,35 tỷ USD nhưng chỉ còn chiếm 45,3% so với kim ngạch xuất khẩu, giảm 34,5% so với cùng kỳ về giá trị.
Các sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này tăng mạnh như hóa chất đã tăng tới 119,8% so với cùng kỳ và vượt lên trở thành mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong xuất khẩu của Việt Nam vào Malaysia với kim ngạch 377,9 triệu USD trong 7 tháng năm 2023.
Mặt hàng máy tính và linh kiện tụt xuống vị trí thứ hai do mặt hàng sụt giảm kim ngạch tới 55,9% so với cùng kỳ. Đây cũng là một vấn đề đáng lo ngại do sự đóng góp của mặt hàng điện tử cao cấp suy giảm. Mặt hàng điện thoại và linh kiện dù vẫn tăng trưởng 20,5% nhưng đã tụt xuống thứ 4 về kim ngạch và chỉ còn 257,5 triệu USD, sau cả mặt hàng sắt thép các loại. Ngoài ra, các mặt hàng khác có kim ngạch tăng trưởng như thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 31,3%, clinker và xi măng tăng tới 77,2%, giầy dép các loại tăng tới 53,6%, hàng rau quả tăng tới 20,7%...
Ông Lê Phú Cường, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Malaysia, nhận định hàng hóa Việt Nam còn rất nhiều cơ hội tại thị trường Malaysia. Đây là thị trường có sức mua khá, nhu cầu đa dạng và gần gũi về văn hóa tiêu dùng với hàng Việt Nam. Độ mở thị trường Malaysia lớn. Mức độ rào cản tương đối thấp với hàng xuất khẩu của Việt Nam do cùng tham gia nhiều hiệp định tự do thương mại khu vực trong khuôn khổ ASEAN và ASEAN , đặc biệt là Hiệp định Ðối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Hơn nữa, Malaysia đang thiếu hụt nguồn cung nội địa về nhiều loại thực phẩm thiết yếu như gạo, thủy hải sản...
Bên cạnh các cơ hội, những tác động khá lớn khiến xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này chưa được như kỳ vọng. Theo Thương vụ Việt Nam tại Malaysia, quốc gia này là nước có tỷ lệ dân theo đạo Hồi lớn (trên 65%). Nước này đang thúc đẩy việc áp dụng tiêu chuẩn Halal (ngành công nghiệp cung cấp các sản phẩm và dịch vụ hợp chuẩn cho người Hồi giáo) cho hàng thực phẩm nhập khẩu chủ yếu vì lý do tôn giáo.
Việc áp dụng tiêu chuẩn này trở thành một rào cản phi thuế dù chỉ mang tính chất tự nguyện chứ không phải là quy định bắt buộc với cả nước xuất và nhập khẩu. Song, việc có được chứng chỉ này sẽ giúp sản phẩm tiếp cận được số lượng người tiêu dùng đông đảo hơn do những người tiêu dùng Hồi giáo chiếm tỷ lệ lớn cũng như họ có ý thức rất cao về lựa chọn tiêu dùng các sản phẩm Halal.
Thực tế hiện nay số lượng đơn vị có chức năng cấp chứng chỉ Halal ở Việt Nam còn ít, chi phí là khá cao đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mặt khác, một số yêu cầu khó thực hiện tại Việt Nam như quy định phải có người đạo Hồi giám sát quy trình sản xuất. Theo thông tin từ Thương vụ, hiện có khoảng 1.000 doanh nghiệp đã được cấp chứng chỉ Halal cho khoảng 3.000 sản phẩm xuất khẩu. Năng lực xuất khẩu sản phẩm Halal của Việt Nam còn thấp, mới chỉ đạt khoảng 10,5 tỷ USD trong năm 2021.
Không chỉ rào cản từ phi thuế quan, ông Cường cho rằng do Malaysia là thị trường tương đối mở cho hàng nhập khẩu, vì thế có sự cạnh tranh khốc liệt với nước xuất khẩu khác, nhất là Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… Hơn nữa, trong khi các mặt hàng thực phẩm yêu cầu có chứng chỉ Halal nhưng việc cấp chứng chỉ này không phải do cơ quan nhà nước Việt Nam quản lý mà do các cơ quan chính quyền một số nước Hồi giáo công nhận.
Hiện mới chỉ có một đơn vị phi chính phủ cấp chứng chỉ Halal tại Việt Nam được JAKIM (thuộc Bộ phụ trách các vấn đề tôn giáo của Malaysia) công nhận. “Chính sự khác biệt về văn hóa, rào cản ngôn ngữ… khiến các doanh nghiệp Việt Nam ngại tiếp cận thị trường Malaysia”, ông Cường nhấn mạnh.
Mặt khác, nhiều trường hợp lừa đảo đã xảy ra làm giảm niềm tin trong giao thương. Nhiều doanh nghiệp e ngại thiết lập kênh phân phối cho sản phẩm của mình, gửi hàng mẫu, tham gia hội chợ hoặc gặp gỡ khách hàng tại địa bàn. Cũng như hạn chế đầu tư vào việc đổi mới sản phẩm cho phù hợp thị hiếu người tiêu dùng sở tại, trong khi người tiêu dùng sở tại đã quen tiếp xúc với hàng hóa của các đối thủ cạnh tranh.
Theo Bộ Công Thương, Việt Nam và Malaysia đang nỗ lực hướng tới mục tiêu kim ngạch thương mại song phương đạt 25 tỷ USD vào năm 2030. Trong khi đây là thị trường khá “màu mỡ” cho doanh nghiệp Việt Nam, do đó doanh nghiệp cần nắm bắt cơ hội, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu.
Tuy nhiên, để tiếp cận được thị trường Malaysia, đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần đáp ứng về tiêu chuẩn chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, nhất là về chứng nhận Halal. Nếu có chứng nhận này sản phẩm của doanh nghiệp sẽ hướng đến 100% dân số của Malaysia. Chứng nhận Halal như là minh chứng về sự an toàn, vệ sinh thực phẩm và chất lượng nói chung cho toàn bộ chuỗi cung ứng sản phẩm của mình.
Doanh nghiệp cần chủ động cập nhật thêm về thông tin, tiềm năng thương mại giữa Việt Nam và Malaysia nói riêng cũng như thị trường các nước Hồi giáo nói chung. Từ đó, có cơ sở hoạch định kế hoạch mở rộng thị trường, tìm được những đối tác đầu tư và kinh doanh tại Malaysia.
“Việc cấp chứng chỉ Halal cần được tuyên truyền phổ biến rộng rãi. Đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu tự nguyện thực hiện nhằm tăng số lượng các đơn vị được cấp chứng chỉ này với thời gian có giá trị dài hơn, cũng như cần giảm chi phí cho việc đánh giá và cấp chứng chỉ để phù hợp với khả năng nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ”, ông Cường đề xuất...
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 39-2023 phát hành ngày 25-09-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam




Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Với khoảng 44.000 ha cà phê Arabica, Sơn La đang hướng tới phát triển ngành hàng theo hướng sinh thái, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị xuất khẩu. Trước thách thức của biến đổi khí hậu và các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, tỉnh xác định đẩy mạnh canh tác bền vững, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu đạt 100.000 tấn cà phê nhân vào năm 2030...
Vòng bán kết Cuộc thi Tài năng trẻ Logistics Việt Nam 2026 với sự góp mặt của 54 đội từ các trường đại học, cao đẳng trên cả nước, hứa hẹn sẽ mang đến những màn tranh tài hấp dẫn, khẳng định sức lan tỏa của sân chơi học thuật hàng đầu ngành logistics...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.