
Theo ông Trần Việt Hùng, Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đang bước sang một thời kỳ mới.
Thưa ông, vấn đề thực thi các cam kết về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam khi tham gia WTO thời gian gần đây diễn ra như thế nào?
Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) xoay quanh 3 vấn đề trụ cột: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và đặc biệt là bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Hiệp định về những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của WTO (Hiệp định TRIPs) quy định rõ các thành viên WTO phải có một khung pháp lý cơ bản về vấn đề này. Ở Việt Nam, Luật Sở hữu trí tuệ đã được kịp thời thông qua, chính thức có hiệu lực từ 1/7/2006 và được đánh giá là khá sát với các yêu cầu của Tổ chức thương mại toàn cầu này.
Tuy nhiên, có thể thấy là vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ trên thực tế cũng còn nhiều vấn đề và đang bước sang một thời kỳ mới. Trong những năm qua, ý thức của các doanh nghiệp về sự quan trọng của vấn đề này tăng lên rõ rệt.
Nếu như trước đây, mỗi năm Cục chúng tôi chỉ nhận được khoảng 6.000 đơn đăng ký nhãn hiệu, thì sang năm 2006, con số này đã tăng lên tới 27.500 đơn đăng ký, ngang bằng với một số nước trong khu vực như Thái Lan, Philippines.
Đáng chú ý, tỷ lệ đơn của các doanh nghiệp trong nước đã chiếm tới 60%, doanh nghiệp FDI 40% thay cho tỷ lệ 30/70 trước đây.
Theo ông, trong các lĩnh vực bảo hộ sở hữu trí tuệ, đâu là vấn đề “nóng” nhất hiện nay?
Hiện nay ở Việt Nam, các đơn đăng ký bảo hộ sáng chế chưa nhiều lắm, kiểu dáng công nghiệp cũng vậy.
Chẳng hạn về vấn đề bản quyền phần mềm máy tính của Việt Nam năm 2005 bị công bố là 92% là lậu, sang năm 2006 đã giảm hơn với 90%. Tuy nhiên, theo đánh giá của Hiệp hội Phần mềm Quốc tế, giá trị tuyệt đối vi phạm của Việt Nam chỉ khoảng 90 triệu USD so với 92 tỷ USD của Trung Quốc.
Vì thế, có thể nói trong tất cả các đối tượng bảo hộ, nhãn hiệu chính là vấn đề “nóng” và lớn nhất, doanh nghiệp phải đối mặt nhiều nhất số vụ khiếu kiện về nhãn hiệu mà Cục Sở hữu trí tuệ thụ lý cũng nhiều nhất.
Có thế nói, dù đã được cải thiện, nhưng đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu vẫn còn chưa được giới doanh nghiệp quan tâm đúng mức cần thiết, tỷ lệ đơn đăng ký chưa cao. Chế định “nhãn hiệu nổi tiếng” trong Luật Sở hữu trí tuệ sẽ khắc phục được phần nào tình trạng này?
Chế định “nhãn hiệu nổi tiếng” trong Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam là việc thực thi Điều 6 bis Công ước Pari 1883 mà Việt Nam là thành viên.
Nội dung điều 6 quy định: “Các nước thành viên có trách nhiệm từ chối hoặc hủy bỏ đăng ký, ngăn cấm việc sử dụng nhãn hiệu mà nhãn hiệu đó có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được cơ quan thẩm quyền của nước đăng ký hoặc sử dụng coi là nhãn hiệu nổi tiếng tại nước đó”.
Vì thế, nếu được đánh giá có nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng, doanh nghiệp có thể không cần đăng ký sẽ vẫn được bảo hộ.
Ở Việt Nam, chúng tôi đã từng thực hiện điều này. Trường hợp cụ thể là khi hãng McDonald cũng như Kentucky - 2 nhãn hiệu nổi tiếng về đồ ăn nhanh chưa vào Việt Nam - đã có một doanh nghiệp của Australia đề nghị đăng ký nhãn hiệu này và đã bị từ chối.
Đã có trường hợp doanh nghiệp Việt Nam nào được hưởng lợi từ quy định này chưa, thưa ông?
Cũng có, đó là trường hợp Miliket - nhãn hiệu mỳ gói được đánh giá là nổi tiếng. Một doanh nghiệp nước mắm ở phía Nam đã đăng ký nhưng chúng tôi cũng đã từ chối, dù Miliket vào thời điểm đó chưa đăng ký.
Còn việc công nhận nổi tiếng ở nước ngoài thì chúng tôi đã từng cấp giấy chứng nhận cho đại diện pháp lý của Petro Vietnam để góp phần đòi lại nhãn hiệu này ở Hoa Kỳ.
Có thể nói, việc chú ý khuyếch trương, tiếp thị để nhãn hiệu hàng hóa của mình nổi tiếng vừa có lợi ích cho kinh doanh, vừa đảm bảo quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp.
Việc thực thi quy định này, cụ thể là cấp giấy chứng nhận là nhãn hiệu nổi tiếng cho doanh nghiệp, sẽ diễn ra như thế nào, thưa ông?
Việc công nhận nhãn hiệu nổi tiếng sẽ được xem xét theo từng trường hợp, có thể tại cơ quan quốc gia về sở hữu trí tuệ hoặc tại tòa án khi có vụ việc liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng.
Các nhãn hiệu được chương trình bình chọn là nhãn hiệu cạnh tranh và nổi tiếng quốc gia sẽ là một nguồn tham khảo quan trọng, khi có nhu cầu xem xét một nhãn hiệu được công nhận là nhãn hiệu nổi tiếng quốc gia.
Khi được công nhận, chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng có quyền ngăn người khác đăng ký nhãn hiệu trùng, tương tự với nhãn hiệu của mình cho tất cả các nhóm sản phẩm, dịch vụ, ngăn người khác sử dụng nhãn hiệu của mình làm tên thương mại, không bị áp dụng quy định sử dụng liên tục trong vòng 5 năm liên tiếp như nhãn hiệu thông thường, không phải gia hạn và có khả năng được bồi thường, đền bù nhiều hơn.




Dự án GoRice được triển khai tại Cần Thơ, An Giang và Vĩnh Long giai đoạn 2025-2030, hướng tới hỗ trợ 48.200 người hưởng lợi trực tiếp, giảm khoảng 748.000 tấn phát thải carbon và thúc đẩy chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long...
Biến động giá nhiên liệu đặt doanh nghiệp xăng dầu trước yêu cầu cân đối vốn nhập hàng, hàng tồn kho và lịch thanh toán. Sự kết nối giữa tín dụng và quản trị dòng tiền trở thành điểm tựa giúp doanh nghiệp chủ động duy trì nhịp kinh doanh.
Diễn đàn “Phát triển công nghiệp dầu khí Việt Nam: Đảm bảo tăng trưởng bền vững” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam – VnEconomy – Vietnam Economic Times tổ chức sẽ diễn ra chiều 29/10/2026 tại Trung tâm hội nghị BMC, tầng 11, Tòa nhà V.E.T Building, 98 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để ngành nông nghiệp và môi trường nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, công nghệ bảo quản, chế biến sâu hạn chế, dữ liệu chưa liên thông đang cản trở tăng trưởng. Tháo gỡ những điểm nghẽn này đòi hỏi tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà trường...
Mỗi sáng kiến dù nhỏ, nếu được áp dụng hiệu quả và được chia sẻ, nhân rộng, sẽ tạo nên nguồn lực đổi mới mạnh mẽ…
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Thảo luận Luật Nhà ở (sửa đổi), các đại biểu Quốc hội cho rằng, đối với các dự án nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư để dẫn dắt thị trường thì cần yêu cầu công khai đầy đủ cấu phần giá thành gồm chi phí đất, xây dựng, tài chính, quản lý, vận hành, bảo trì và các khoản chi phí hợp pháp khác. Việc công khai này giúp hình thành mặt bằng tham chiếu đáng tin cậy cho thị trường...