Theo số liệu Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 6/3, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 2/2026 ước giảm 18,4% so với tháng trước và tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước.
Tháng 2/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành chế biến, chế tạo tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước; ngành khai khoáng giảm 5,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,6%; sản xuất và phân phối điện giảm 4,5%.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,5%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,5% (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,1%), đóng góp 8,9 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,3% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,3%), đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,1% (cùng kỳ năm 2025 tăng 12,9%), đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5,4% (cùng kỳ năm 2025 giảm 5,2%), làm tăng 0,9 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
Báo cáo của Cục Thống kê cho biết trong 2 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước, gồm: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 33,1%; sản xuất kim loại tăng 27,9%; sản xuất đồ uống tăng 20,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 20,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 20,3%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 20,1%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa... tăng 13,4%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,2%; sản xuất trang phục tăng 11,6%; dệt tăng 10,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 10,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 9,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,0%.
Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm so với cùng kỳ năm trước: Khai thác than cứng và than non giảm 3,4%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 2,7%.
Về chỉ số sản xuất công nghiệp của các địa phương trong 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước, báo cáo của Cục Thống kê ghi nhận tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ năm trước, gồm: Xi măng tăng 30,5%; sơn hóa học tăng 27,5%; thép thanh, thép góc tăng 25,7%; thủy hải sản chế biến tăng 24,8%; ô tô tăng 24,0%; xe máy tăng 22,5%; bia tăng 18,1%; linh kiện điện thoại tăng 15,4%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Phân Ure giảm 16,7%; than sạch giảm 6,1%; điện thoại di động giảm 4,4%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 4,2%; phân hỗn hợp NPK giảm 3,9%; Alumin giảm 0,5%.
Về tình hình lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp, Cục Thống kê cho biết tại thời điểm 01/02/2026 tăng 0,2% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 4,0% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,1% so với tháng trước và giảm 3,0% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,2% và giảm 0,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,3% và tăng 5,9%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng không đổi so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 1,0% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,2% và tăng 4,1%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1 và tăng 2,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,1% và tăng 4,3%.
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Với khoảng 44.000 ha cà phê Arabica, Sơn La đang hướng tới phát triển ngành hàng theo hướng sinh thái, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị xuất khẩu. Trước thách thức của biến đổi khí hậu và các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, tỉnh xác định đẩy mạnh canh tác bền vững, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu đạt 100.000 tấn cà phê nhân vào năm 2030...
Vòng bán kết Cuộc thi Tài năng trẻ Logistics Việt Nam 2026 với sự góp mặt của 54 đội từ các trường đại học, cao đẳng trên cả nước, hứa hẹn sẽ mang đến những màn tranh tài hấp dẫn, khẳng định sức lan tỏa của sân chơi học thuật hàng đầu ngành logistics...
Doanh nghiệp không chỉ cần thêm chính sách, mà còn cần chính sách ổn định, quy định thông suốt, thời hạn giải quyết thủ tục minh bạch và cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng. Quan trọng nhất là một môi trường kinh doanh có thể dự báo được, giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư, phát triển dài hạn...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.