Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 6/11/2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10/2025 ước tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước; ngành khai khoáng tăng 3,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,0%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,2%.
Tính chung 10 tháng năm 2025, IIP ước tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 tăng 8,3%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5% (cùng kỳ năm 2024 tăng 9,5%), đóng góp 8,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,0% (cùng kỳ năm 2024 tăng 10,0%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,8% (cùng kỳ năm 2024 tăng 10,4%), đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 0,1% (cùng kỳ năm 2024 giảm 7,1%), làm giảm 0,01 điểm phần trăm.
Báo cáo của Cục Thống kê cũng ghi nhận, trong 10 tháng năm 2025, nhiều ngành công nghiệp trọng điểm cấp II có chỉ số sản xuất tăng trưởng vượt bậc so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, sản xuất xe có động cơ tăng 23,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 17,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,8%; sản xuất kim loại tăng 13,8%; sản xuất trang phục tăng 13,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 11,2%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,4%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế và sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy cùng tăng 10,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa... tăng 10,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,2%.
Ở chiều ngược lại, chỉ số sản xuất của một số ngành tăng thấp hoặc giảm là sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 3,9%; khai thác than cứng và than non tăng 3,4%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 4,1%.
Về tình hình sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước của các địa phương trên cả nước, báo cáo của Cục Thống kê ghi nhận tăng ở cả 34 địa phương.
Theo đó, một số địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 10 tháng năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, gồm: Quảng Ninh tăng 34,1%; Phú Thọ tăng 28,8%; Ninh Bình tăng 22,9%; Lai Châu tăng 18,9%; Thanh Hóa tăng 17,7%; Hải Phòng và Bắc Ninh cùng tăng 16,6%; Nghệ An và Tây Ninh cùng tăng 15,3%. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Huế tăng 37,8%; Nghệ An tăng 23,6%; Lai Châu tăng 17,0%.
Bên cạnh đó, một số địa phương có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp là Lạng Sơn tăng 3,4%; Hà Tĩnh tăng 1,3%; Cao Bằng tăng 0,1%.
Các địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện 10 tháng năm 2025 tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Khánh Hòa tăng 3,2%; Cao Bằng tăng 2,4%; Lâm Đồng tăng 1,2%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 32,2%.
Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành khai khoáng 10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng thấp hoặc giảm: Sơn La tăng 7,2%; Hà Tĩnh tăng 6,2%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 3,7%; Hà Nội giảm 2,6%; Tuyên Quang giảm 1,5%.
Trong 10 tháng năm 2025, sản lượng nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng cao so với cùng kỳ. Cụ thể, ôtô tăng 42,2%; tivi tăng 19,6%; thép cán tăng 17,7%; xi măng và thức ăn cho thủy sản cùng tăng 14,6%; quần áo mặc thường tăng 14,3%; phân hỗn hợp NPK tăng 13,6%; giày, dép da tăng 12,8%; đường kính tăng 12,6%; xăng dầu các loại tăng 11,3%; sơn hóa học tăng 10,2%.
Ở chiều ngược lại, một số lĩnh vực vẫn gặp khó khăn như khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 7,5%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 2,3%; dầu mỏ thô khai thác giảm 0,9%.
Liên quan đến tình hình lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp, Cục Thống kê cho biết tại thời điểm 01/10/2025 tăng 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,6% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, tỷ lệ tương ứng của doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,6% so với cùng thời điểm năm trước; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,9% và tăng 4,1%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,0% và tăng 2,2%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng không đổi so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 1,6% so với cùng thời điểm năm trước; số lao động trong ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% và tăng 3,7%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 5,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,3% và tăng 1,3%.




Trong 9 tháng năm 2026, xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp lễ, Tết cuối năm cùng nguồn cung đa dạng đang mở ra cơ hội để ngành hàng duy trì đà tăng trưởng, hướng tới mục tiêu lập mốc kỷ lục 10 tỷ USD...
Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Tĩnh ghi nhận những diễn biến trái chiều. Dù xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi vào tháng 9 nhưng lũy kế từ đầu năm vẫn giảm 4,57%; ngược lại, kim ngạch nhập khẩu lại tăng tới 17,79% so với cùng kỳ năm trước...
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Với khoảng 44.000 ha cà phê Arabica, Sơn La đang hướng tới phát triển ngành hàng theo hướng sinh thái, nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị xuất khẩu. Trước thách thức của biến đổi khí hậu và các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, tỉnh xác định đẩy mạnh canh tác bền vững, chuyển đổi số, chế biến sâu và liên kết chuỗi giá trị, hướng tới mục tiêu đạt 100.000 tấn cà phê nhân vào năm 2030...
Vòng bán kết Cuộc thi Tài năng trẻ Logistics Việt Nam 2026 với sự góp mặt của 54 đội từ các trường đại học, cao đẳng trên cả nước, hứa hẹn sẽ mang đến những màn tranh tài hấp dẫn, khẳng định sức lan tỏa của sân chơi học thuật hàng đầu ngành logistics...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.