
Nguyên nhân chủ yếu khiến Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) không hoàn thành chỉ tiêu khai thác là do lập kế hoạch không sát.
Đó là giải thích được ông Đinh La Thăng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Petro Vietnam, đưa ra tại buổi họp báo về kết quả sản xuất, kinh doanh năm 2008, do tập đoàn tổ chức ngày 30/12.
Đã chuẩn bị giải pháp dự phòng
Tại buổi họp báo, ông Thăng cho biết, hiện có nhiều dự báo khác nhau cho kịch bản giá dầu trong năm 2009, trong đó có cả mức giá 20 USD/thùng, 60 USD/thùng… "Nghĩa là rất khó để dự báo giá dầu mà hoàn toàn phải phụ thuộc vào những diễn biến thực tế", ông nói.
Hiện Petro Vietnam cũng đã đưa ra một số phương án cho giá dầu trong năm 2009, trong đó kịch bản xấu nhất là giá dầu chỉ còn 30 USD/ thùng.
Ông Thăng nói nếu giá dầu ở mức 30 USD/thùng thì kế hoạch khai thác các mỏ gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là các mỏ nhỏ, mỏ cận biện bởi khó có thể bù đắp chi phí.
Hơn nữa, nếu giá dầu giảm sâu thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu, đến sản xuất kinh doanh, nộp ngân sách… của Petro Vietnam.
Cũng chính vì vậy, Petro Vietnam đã phải đưa ra những giải pháp dự phòng cho trường hợp xấu nhất của giá dầu. Đó là sẽ cơ cấu lại các danh mục đầu tư, đẩy mạnh tiết kiệm…
Trước mắt, trong năm 2009 Petro Vietnam sẽ ngừng tất cả việc mua xe hơi, thực hiện giao giá thành, kế hoạch, chi phí quảng cáo, tiếp thị đối với tất cả các sản phẩm chủ yếu cho từng đơn vị, hạn chế hội họp…
Về chỉ tiêu doanh thu, lãnh đạo tập đoàn này cho biết, trong năm 2009 về cơ bản chỉ tiêu không cao hơn năm 2008.
Đáng chú ý, lý giải về nguyên nhân khiến cho tập đoàn không hoàn thành chỉ tiêu khai thác của giai đoạn 2006 - 2008, theo ông Thăng, nguyên nhân chủ yếu là do chủ quan, mà cụ thể là do tập đoàn đã lập kế hoạch không sát trong 3 năm liền. Chính vì thế, lãnh đạo tập đoàn đã họp và nghiêm túc kiểm điểm những người có trách nhiệm trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, theo ông Thăng thì cũng cần phải kể đến các nguyên nhân khách quan như thời tiết, lạm phát, suy giảm của nền kinh tế…
Giải thích mối liên hệ giữa việc Petro Vietnam tăng cường đầu tư khai thác dầu thô ở nước ngoài và trữ lượng dầu thô trong nước, ông Thăng nói trữ lượng dầu của Việt Nam là không lớn, chỉ xếp thứ tư trong khu vực Đông Nam Á. Vì vậy, Bộ Chính trị đã phê duyệt chiến lược phát triển của Petro Vietnam là phải hướng đến một tập đoàn kinh tế đa ngành, hướng tới đầu tư dầu khí ra nước ngoài, doanh thu từ dịch vụ dầu khí phải đạt khoảng 40 - 50 % (hiện chỉ chiếm hơn 20%).
Ông Thăng cho biết, trong thời gian gần đây, Petro Vietnam đã đẩy mạnh hoạt động đầu tư dầu khí ra nước ngoài với 16 dự án (Đông Nam Á: 6 dự án, Trung Đông và châu Phi: 6 dự án, châu Mỹ: 4 dự án). Theo kế hoạch, đến 2012, tập đoàn sẽ khai thác dầu tại Venezuela với sản lượng khoảng 10 triệu tấn/năm.
Còn con số cụ thể dự báo về sản lượng dầu thô của Việt Nam là thuộc danh mục bí mật quốc gia, nên Petro Vietnam không thể công bố được.
Sẽ bán cổ phần Nhà máy Lọc dầu Dung Quất
Về kế hoạch bán cổ phần của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, ông Thăng cho biết, Chính phủ đã đồng ý cho phép Petro Vietnam bán tối đa 49% khi nhà máy đi vào hoạt động và sẽ ưu tiên cho các đơn vị nước ngoài có cam kết cung cấp dầu thô dài hạn cho nhà máy.
Trả lời câu hỏi vì sao đa số các dự án dầu khí của tập đoàn lại do các nhà thầu nước ngoài, đặc biệt là các nhà thầu Trung Quốc đảm nhận? Theo ông Thăng, việc lựa chọn các nhà thầu Trung Quốc là do chúng ta còn khó khăn về kinh phí nên phải tính đến hiệu quả kinh tế.
Ông đưa ra ví dụ, khi đấu thầu dự án là Nhà máy Đạm Cà Mau thì giá của các nhà thầu châu Âu là trên 1 tỷ USD, nhưng nhà thầu Trung Quốc chỉ có hơn 500 triệu USD.
Tuy nhiên, ông cũng lưu ý, không phải tất cả các thiết bị, công nghệ đều của Trung Quốc mà tuy từng hạng mục, từng nhà đầu tư cụ thể để hiệu quả có thể đạt tối đa trong khả năng.
Doanh thu chiếm 20% GDP
Tại buổi họp báo, ông Trần Minh Hồng, Phó tổng giám đốc Petro Vietnam cho biết, trong năm 2008, tập đoàn đã hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao về chỉ tiêu doanh thu, kim ngạch xuất khẩu và nộp ngân sách Nhà nước, cụ thể:
Tổng sản lượng khai thác trong năm đạt của toàn tập đoàn đã đạt 22,50 triệu tấn qui dầu, đạt 95,7% kế hoạch năm và 98,8% so với thực hiện năm 2007. Trong đó:
Khai thác dầu thô và condensate đạt 15,00 triệu tấn, đạt 93,8% kế hoạch năm và 94,3% so với thực hiện năm 2007. Khai thác khí đạt 7,50 tỷ m³, bằng 100,0% kế hoạch năm và 109,3% so với thực hiện năm 2007. Xuất khẩu dầu thô đạt 14,66 triệu tấn, bằng 93,7% kế hoạch năm và 93,3% so với thực hiện năm 2007.
Doanh thu năm 2008 của tập đoàn đã đạt 280,05 nghìn tỷ đồng (trong đó: ngoại tệ là 11,15 tỷ USD, nội tệ là 95,75 nghìn tỷ đồng), đạt 149,6% kế hoạch năm và tăng 31,2 % so với năm 2007, chiếm trên 20% GDP cả nước.
Tập đoàn cũng đã nộp ngân sách 121,80 nghìn tỷ đồng, chiếm trên 31% tổng thu ngân sách nhà nước.
Về kim ngạch xuất khẩu, năm 2008, Petro Vietnam đã thu về 11,15 tỷ USD, đạt 146,7% kế hoạch năm, chiếm trên 18% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí cũng đã được tập đoàn tiếp tục đẩy mạnh bằng việc gia tăng trữ lượng dầu khí 127 triệu tấn thu hồi, đạt 363% kế hoạch, trong đó: ở trong nước là 30 triệu tấn, còn ở nước ngoài là 97 triệu tấn, đưa 5 mỏ dầu khí mới vào khai thác và hoàn tất một đề án mở rộng phát triển mỏ, gồm các mỏ dầu: Cá Ngừ Vàng (25/7/2008), Phương Đông (24/8/2008), Sư Tử Vàng (14/10/2008), Sông Đốc (24/11/2008); mỏ khí - Bunga Orkid (29/7/2008) và hoàn tất đề án phát triển giai đoạn 2 mỏ Rạng Đông.
Chỉ còn chưa đầy 6 tháng trước khi Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) được thực thi đầy đủ. Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở tiêu chuẩn kỹ thuật mà ở tư duy, sự minh bạch và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, việc xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu chính xác là điều kiện tiên quyết để bảo vệ uy tín của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Nhân dịp hướng tới kỷ niệm 67 năm chuyến thăm Baku của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ngày Việt Nam tại Thủ đô Baku, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Shovgi Kamal Oglu Mehdizade, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Azerbaijan tại Việt Nam, về triển vọng hợp tác song phương cũng như vai trò của Azerbaijan trong việc kết nối logistics giữa Việt Nam với châu Âu.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Sự hiện diện của ESFLO MKTING, S.A. de C.V. tại VIS 2026 cho thấy Việt Nam đang trở thành điểm đến ưu tiên của các nhà nhập khẩu Mexico, trong bối cảnh thương mại song phương tăng trưởng mạnh nhờ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)...
Thương mại Việt Nam – Đài Loan trong 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự bứt phá kỷ lục với sự dẫn dắt tuyệt đối từ nhóm hàng công nghệ cao. Tuy nhiên, để bảo vệ thành quả tăng trưởng và khai thác hiệu quả dư địa thị trường Đài Loan trong giai đoạn nửa cuối năm 2026 cũng như các năm tiếp theo, rất cần một sự chuẩn bị kỹ càng về chiến lược phát triển thị trường, xúc tiến thương mại phù hợp...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...