mua cua Cà Mau Sỉcua Cà Maumón ăn cua kỳ lạblog thú cưng
VnEconomy
VnEconomy

Ông có thể chia sẻ về tầm nhìn phát triển xanh và tương lai của ngành cà phê Việt Nam?

Khát vọng của chúng tôi là làm sao để người nông dân không chỉ bán nguyên liệu thô, mà có thể bán được giá trị, bán được thương hiệu của chính vùng đất của mình và của cà phê Việt Nam.

Xu thế của thế giới là xuất khẩu xanh, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Hầu hết các tiêu chuẩn mới đều xoay quanh những yêu cầu này. Muốn có sản phẩm “xanh” thì toàn chuỗi và toàn bộ doanh nghiệp, từ người lãnh đạo cho đến từng nhân viên cũng phải đáp ứng tiêu chí “xanh”. “Xanh” ở đây không chỉ là đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, mà còn là thay đổi tư duy và cách làm để hướng tới phát triển bền vững.

Theo tôi, nếu doanh nghiệp không dám khẳng định mình, không minh bạch và không xây dựng được một văn hóa kinh doanh đúng nghĩa thì rất khó có thể phát triển lâu dài. Vĩnh Hiệp theo đuổi mô hình nhà máy xanh, con người xanh, nông nghiệp xanh và cuối cùng là xuất khẩu xanh. Nhờ kiên định với định hướng đó, năm 2025, chúng tôi đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 1 tỷ USD và là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu cà phê hàng đầu Việt Nam.

Điều tôi mong muốn không chỉ là sự phát triển của riêng Vĩnh Hiệp, mà còn là sự phát triển bền vững của cả ngành cà phê Việt Nam. Chúng ta cần thống nhất một hướng đi chung để cùng xây dựng ngành cà phê Việt Nam phát triển minh bạch, bền vững và thương hiệu uy tín trên thị trường quốc tế.

VnEconomy

Ông đánh giá thế nào về mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp Việt Nam trước EUDR?

Năm 2025, Liên minh châu Âu (EU) tiếp tục giữ vững vị trí là thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 40,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành. Việt Nam đã xuất khẩu hơn 666.000 tấn cà phê sang thị trường này, đạt kim ngạch 3,63 tỷ USD, tăng 26% về khối lượng và tăng 68,3% về giá trị so với năm 2024. Đáng chú ý, xuất khẩu sang các thị trường chủ lực như Đức, Italia, Tây Ban Nha và Hà Lan đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt 1,1 triệu tấn với kim ngạch 4,78 tỷ USD, tăng 9,7% về khối lượng nhưng giảm 14,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. EU vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất của cà phê Việt Nam, chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong số các thị trường nhập khẩu, Đức, Italia và Hoa Kỳ tiếp tục là ba thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam, với thị phần lần lượt đạt 14,1%, 7,9% và 6,9%. Xu hướng này cho thấy cà phê Việt Nam ngày càng đáp ứng tốt hơn các yêu cầu khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn bền vững tại thị trường châu Âu.

Thị trường EU rất quan trong đối với ngành hàng cà phê Việt Nam, trong khi chỉ còn chưa đầy 6 tháng nữa là bắt buộc tuân thủ những quy định của EUDR. Những năm qua, đi đâu cũng thấy các doanh nghiệp nói đã sớm chuẩn bị và sẵn sàng đáp ứng EUDR, nhưng hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp vẫn chỉ sử dụng dữ liệu của các tổ chức chứng nhận mà chưa đi rà soát lại. Quan ngại hơn, nhiều nơi gần như không hiểu EUDR là gì, nhưng các doanh nghiệp vẫn khai báo rằng mình đã làm EUDR.

Theo tôi, đây là câu chuyện về uy tín, về hình ảnh của quốc gia, chứ không phải chỉ là bán được một lô hàng. Điều lo ngại nhất là lâu nay doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn tình trạng mạnh ai nấy làm, ít chia sẻ, chưa đoàn kết với nhau. Trong khi đây là vấn đề chung của cả ngành hàng.

Một doanh nghiệp không thể tự mình giải quyết nếu tất cả không cùng thực hiện các quy định về chống mất rừng và các tiêu chuẩn quốc tế. Từ nay đến năm 2030 và xa hơn nữa là 2050, sẽ còn rất nhiều rào cản mới đặt ra cho doanh nghiệp. Chúng ta cần nhìn rõ điều đó để chủ động thích ứng.

VnEconomy

Được biết Vĩnh Hiệp quyết định đầu tư rất lớn để rà soát lại toàn bộ dữ liệu thay vì sử dụng dữ liệu sẵn có. Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình thu thập dữ liệu thực địa?

Để đáp ứng các yêu cầu truy xuất nguồn gốc của thị trường châu Âu, Công ty Vĩnh Hiệp đã chủ động đầu tư khoảng 30-40 tỷ đồng để rà soát và chuẩn hóa toàn bộ cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu, thay vì chỉ sử dụng dữ liệu có sẵn. Quá trình này giúp xác định rõ những khu vực bị chồng lấn dữ liệu với các đơn vị khác và bảo đảm tính chính xác của từng vùng trồng.

Từ dữ liệu nền của chương trình 4C, doanh nghiệp tiến hành kiểm kê lại toàn bộ thông tin của từng hộ nông dân, gồm chủ hộ, số căn cước công dân, diện tích, tọa độ và các thông tin liên quan. Để thực hiện, Vĩnh Hiệp phối hợp với IDH huy động sinh viên xuống hiện trường thu thập dữ liệu trong dịp nghỉ hè, sau đó tiếp tục phối hợp với cán bộ địa phương đo đạc, cập nhật thông tin và xác minh các lô trồng.

Chúng tôi cũng xây dựng cơ chế phối hợp trực tuyến với chính quyền địa phương. Mọi vướng mắc phát sinh trong quá trình xác minh đều được cập nhật ngay trên nhóm làm việc chung có sự tham gia của đại diện cấp tỉnh, cán bộ xã, doanh nghiệp và nông hộ. Nhờ đó, các trường hợp cần xác nhận được xử lý kịp thời, dù vẫn còn một số hồ sơ liên quan đến nhiều địa phương nên tiến độ bị kéo dài.

Dù việc hoàn thiện dữ liệu chưa hoàn tất trên toàn bộ vùng nguyên liệu, song sản lượng của Vĩnh Hiệp từ các khu vực đã được xác minh và đáp ứng yêu cầu vẫn đủ cung cấp khoảng 40% lượng cà phê xuất khẩu sang thị trường EU.

VnEconomy

Theo ông, đâu là rào cản khiến doanh nghiệp lúng túng khi xây dựng dữ liệu EUDR và thực trạng chồng lấn vùng nguyên liệu hiện nay đang gây ra những rủi ro gì?

Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chủ động xây dựng và rà soát cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu do e ngại chi phí và thiếu nguồn nhân lực. Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp đang dựa vào dữ liệu từ các tổ chức chứng nhận như FSC, Rainforest Alliance (RA), Fairtrade hay 4C và tin tưởng đây là nguồn dữ liệu chính xác. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại không nằm ở chất lượng dữ liệu mà ở tình trạng chồng lấn giữa các doanh nghiệp trên cùng một hộ sản xuất hoặc cùng một lô đất.

Ví dụ tại Gia Lai, một hộ có 3 ha cà phê nhưng đồng thời được cấp ba bộ chứng nhận khác nhau. Mỗi doanh nghiệp quản lý một bộ dữ liệu riêng, dẫn đến việc cùng một sản lượng cà phê có thể xuất hiện trong dữ liệu của nhiều doanh nghiệp. Nếu cơ quan chức năng của EU phát hiện nhiều lô hàng cùng khai báo xuất xứ từ một vườn trồng, với tổng khối lượng vượt xa sản lượng thực tế, các doanh nghiệp liên quan đều có nguy cơ bị quy kết vi phạm và hàng hóa có thể bị trả về. Hiện vẫn chưa có cơ chế rõ ràng để xác định trách nhiệm trong những trường hợp như vậy.

Để hạn chế rủi ro, Vĩnh Hiệp lựa chọn cách làm thận trọng hơn. Doanh nghiệp vẫn sử dụng dữ liệu của các tổ chức chứng nhận, nhưng chỉ coi đó là cơ sở ban đầu để tiếp tục kiểm tra, đối chiếu và xác minh thực địa, thay vì sử dụng nguyên trạng. Dù phía EU chưa có hướng dẫn cụ thể về xử lý dữ liệu chồng lấn, việc chủ động rà soát và chuẩn hóa dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp có đủ căn cứ chứng minh tính minh bạch và tuân thủ nếu phát sinh kiểm tra trong tương lai.

Đến ngày 30/12/2026, giai đoạn chuẩn bị thực hiện EUDR sẽ kết thúc và từ 1/1/2027 quy định sẽ được áp dụng đầy đủ. Tuy nhiên, vấn đề lớn hiện nay là chưa có đơn vị đứng ra quản lý, điều phối cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, sau thời điểm EUDR chính thức có hiệu lực, các địa phương cần công bố danh sách doanh nghiệp đang triển khai dữ liệu trên địa bàn, đồng thời tổ chức rà soát những trường hợp chồng lấn. Việc thống nhất dữ liệu ngay từ đầu sẽ giúp tránh vi phạm quy định và giảm rủi ro cho doanh nghiệp khi xuất khẩu sang thị trường EU.

VnEconomy

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 28-2026 phát hành ngày 13/07/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây: 

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-28-2026.html

VnEconomy

Từ nguồn lực đến năng lực sáng tạo

Câu hỏi của chặng phát triển mới không còn dừng ở việc chúng ta có bao nhiêu nguồn lực, mà là có thể tổ chức, kết nối và chuyển hóa những nguồn lực ấy đến đâu. Từ thể chế và môi trường kinh doanh đến sức sống của doanh nghiệp địa phương, từ niềm tin của người trở về quê đến cách ứng xử với di sản và căn tính miền Trung, những câu trả lời gặp nhau ở một điểm: phát triển phải để lại năng lực lớn hơn cho con người và vùng đất, để ngày mai có thể tự tạo ra những cơ hội mới.

Chuyển đổi nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng để gia tăng giá trị

Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.

Khai mở kho báu di sản

Có những vùng đất càng đi chậm càng thấy nhiều điều đáng giá. Một mái thành rêu phong ở Huế, dòng nước trong veo dưới chân Trường Sơn, hang động được gìn giữ qua triệu năm hay nếp nhà nép bên sườn núi đều có thể mở ra sinh kế mới. Nhưng giá trị không nằm ở việc đón thật đông người hay dựng thêm thật nhiều dịch vụ. Hành trình qua Huế, Sơn Đoòng và những bản làng phía Tây gợi một cách làm khác: để di sản bước vào đời sống hôm nay mà vẻ đẹp, ký ức và phần dành cho mai sau vẫn vẹn nguyên.

Đồng bộ dữ liệu để người dân TP. Hồ Chí Minh hưởng lợi từ chuyển đổi số

Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.

Công nghiệp Thủ đô: Bảy thập kỷ chuyển mình và bứt phá

Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.

Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy