Ngày 15/3 vừa qua, một diễn đàn của giới đầu tư xôn xao về một hiện tượng huy động vốn và tính pháp lý của trần lãi suất 14%/năm…
Tranh luận của nhà đầu tư xoay quanh sự kiện Sở Giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) đưa ra sản phẩm gửi tiền tiết kiệm bằng VND bảo đảm bằng USD.
Có hai chiều ý kiến xoay quanh sự kiện này: thứ nhất, giá trị của VND trong mắt ngân hàng và người gửi tiền hiện nay như thế nào để phải đảm bảo bằng USD? thứ hai, cơ chế bảo đảm đó có tuân thủ đúng quy định về trần lãi suất huy động VND tối đa 14%/năm hay không?
Mối quan tâm lúc này đặt ở chiều ý kiến thứ hai.
Sau Agribank, một số ngân hàng thương mại cổ phần cũng lập tức tung ra sản phẩm huy động loại này. Theo giới thiệu của một nhà băng, đây là sản phẩm “bảo vệ người gửi tiền trước mọi biến động tỷ giá”.
Cụ thể, khách hàng gửi tiền bằng VND, theo một số kỳ hạn nhất định, phương thức đảm bảo giá trị cho người gửi tiền được xác định theo hai trường hợp.
Trường hợp 1:
Nếu tỷ giá USD/VND biến động giảm hoặc bằng vào ngày đáo hạn, khách hàng sẽ được hưởng toàn bộ tiền gốc ban đầu cộng với tiền lãi tính theo lãi suất 14%/năm và thời gian thực gửi.
Trường hợp 2:
Nếu tỷ giá USD/VND biến động tăng vào ngày đáo hạn, khách hàng sẽ được hưởng toàn bộ tiền gốc ban đầu cộng với tiền lãi tính theo lãi suất 14% và thời gian thực gửi; cộng thêm phần bù đắp tỷ giá tính bằng số tiền gửi gốc ban đầu (nhưng được quy đổi ra USD theo tỷ giá bán bán mà ngân hàng niêm yết tại ngày gửi) nhân với mức chênh lệch giữa tỷ giá bán ra của ngày đáo hạn và tỷ giá bán ra của ngày gửi.
Vấn đề đặt ra ở trường hợp tỷ giá tăng, đến kỳ đáo hạn khách hàng được hưởng thêm phần “bù đắp” tỷ giá tăng đó; lãi suất thực nhận theo đó sẽ cao hơn 14%/năm. Vậy, trường hợp này, ngân hàng có phạm luật hay không?
Có những ý kiến khác nhau về trường hợp này, bởi trên thực tế tại thời điểm công bố và áp dụng lãi suất, mức hiện hữu vẫn là 14%/năm, khả năng vượt mốc này tùy thuộc vào thực tế biến động của tỷ giá; theo đó, chưa có căn cứ xác định để quy việc huy động đó có vượt trần hay không.
Ngược lại, với xu hướng tăng của tỷ giá USD/VND, nhiều khả năng khi các hợp đồng đáo hạn, người gửi tiền sẽ được nhận sự “bù đắp” đó như cam kết của sản phẩm; khi đó, khả năng lãi suất thực nhận vượt 14%/năm thì sẽ xử lý ra sao?
Những câu hỏi trên đặt trần lãi suất 14%/năm vào tình huống oái ăm. Lúc này, một số ngân hàng đã triển khai và áp dụng cơ chế đảm bảo như trên, còn Ngân hàng Nhà nước im lặng. Liệu có tình huống khi phát sinh trên thực tế, lãi suất ở sản phẩm đó vượt 14%/năm, Ngân hàng Nhà nước mới xử lý? Trong khi đó, lãnh đạo một số ngân hàng khác từ chối bình luận về trường hợp này, nhưng cũng có ý kiến cho rằng, nếu không phạm luật thì ngân hàng mình cũng sẽ nghiên cứu triển khai, bởi như thế tạo thêm lợi ích và lựa chọn cho người gửi tiền.
Trước đó, ngày 3/3/2011, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 02/2011/TT-NHNN quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng VND, với quy định: tổ chức tín dụng ấn định lãi suất huy động vốn bằng VND (lãi suất tiền gửi, lãi suất giấy tờ có giá) của các tổ chức (trừ tổ chức tín dụng) và cá nhân bao gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức không vượt quá 14%/năm; riêng các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định lãi suất huy động vốn bằng VND không vượt quá 14,5%/năm.
Mức lãi suất huy động vốn tối đa này áp dụng đối với phương thức trả lãi cuối kỳ; đối với các phương thức trả lãi khác, phải được quy đổi theo phương thức trả lãi cuối kỳ tương ứng với mức lãi suất huy động vốn tối đa.
Như vậy, tính trọn vẹn của trần lãi suất 14%/năm theo Thông tư 02 cũng cần được xét đến ở cả khả năng vượt trần của sản phẩm huy động nói trên.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 lên 9,2%, từ mức 8,5% trước đó. Đồng thời, dự báo lạm phát bình quân cả năm lên 4,7% khi áp lực giá cả gia tăng trong quý 4/2026…
Thách thức của tín dụng xanh không chỉ nằm ở quy mô cho vay hay lãi suất, mà còn ở việc dung hòa nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư môi trường của doanh nghiệp với yêu cầu bảo đảm dòng tiền, khả năng trả nợ và kiểm soát rủi ro của ngân hàng...
“Một lần định danh gắn với trải nghiệm liền mạch và thanh toán thuận tiện” là mục tiêu thanh toán số hiện nay được đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đặt ra trong bối cảnh thanh toán không dùng tiền mặt bùng nổ với hơn 21 tỷ giao dịch trong 8 tháng năm 2026…
Sau 40 năm dấn thân trên thương trường kể từ khi đất nước mở cửa, thế hệ doanh nhân đầu tiên của Việt Nam hiện đứng trước một phép thử mới: gìn giữ và chuyển giao cơ nghiệp cho thế hệ kế tiếp. Giữa lúc một bộ phận giàu có đang loay hoay duy trì sự thịnh vượng mà họ đã tạo nên thì thị trường xuất hiện một cách tiếp cận mới, đó là quản lý gia sản theo hệ thống quản trị chuyên nghiệp...
Ngân hàng Nhà nước sẽ siết chặt tiêu chuẩn xác thực sinh trắc học nhằm ngăn chặn hành vi giả mạo bằng trí tuệ nhân tạo (deepfake), đồng thời bổ sung cơ chế trì hoãn giao dịch tối thiểu 24 giờ để phòng chống lừa đảo. Các quy định mới dự kiến có hiệu lực trong năm 2027, hướng tới tăng cường an toàn giao dịch và bảo vệ người sử dụng dịch vụ thanh toán…
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, thay vì cạnh tranh bằng ưu đãi thuế hoặc chi phí lao động giá rẻ, Việt Nam cần chuyển hướng cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng đô thị, dịch vụ công và môi trường sống thân thiện.