
Theo Bộ Thương mại, 6 tháng đầu năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Indonesia đạt 766,470 triệu USD, tăng 70% so với cùng kỳ năm 2006.
Riêng quý 1/2007, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Indonesia đã tăng 1,5 lần so với cùng kỳ năm trước.
Năm 2006, Indonesia đã trở thành một trong 7 nước thuộc khu vực châu Á nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam đạt trên 1 tỷ USD.
Theo đánh giá của Vụ châu Á - Thái Bình Dương (Bộ Thương mại), quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Indonesia ngày càng phát triển, trong đó kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường này luôn có chiều hướng tăng, nhập siêu giảm.
Mặc dù Indonesia có cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu tương tự với Việt Nam, nhưng số liệu thống kê cho thấy năm 2006, Việt Nam đã xuất siêu sang Indonesia và 4 thị trường khác của châu Á.
Bộ Thương mại dự báo, xuất khẩu của Việt Nam sang Indonesia năm 2007 sẽ đạt 1,3 tỷ USD và đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này có thể lên tới 1,75 tỷ USD.
Những năm qua, sản phẩm thế mạnh của Việt Nam xuất sang Indonesia vẫn là gạo và dầu thô. Sản phẩm thế mạnh của Indonesia xuất sang Việt Nam gồm một số mặt hàng phục vụ sản xuất công nghiệp, như hoá chất, bột giấy, nguyên phụ liệu dệt may, da...
Trong 6 tháng đầu năm 2007, các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Indonesia có kim ngạch tăng bao gồm: dầu thô xuất khẩu 838 ngàn tấn, trị giá 371,2 triệu USD (tăng 11,7% về lượng và 0,75% về trị giá); gạo đạt 643,6 ngàn tấn, trị giá 208,875 triệu USD (tăng 7,14 lần về lượng và 8,18 lần về trị giá); cà phê đạt trên 40 ngàn tấn, trị giá 59,1 triệu USD (tăng 45 lần về lượng và 53,6 lần về trị giá); chè đạt gần 3.800 tấn, trị giá 2,4 triệu USD (tăng 3,8 lần về lượng và 3,5 lần về trị giá); cao su đạt 2.244 tấn tương đương 2,85 triệu USD (tăng 1,25 lần về lượng và 1,38 lần về trị giá)...
Đặc biệt, mặt hàng lạc nhân những năm gần đây của Việt Nam bị mất thị trường. Năm 2006, các doanh nghiệp Việt Nam không xuất được mặt hàng này vào Indonesia. Nhưng 6 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã xuất khẩu được 5.639 tấn với trị giá 3,535 triệu USD.
Ngoài ra, những mặt hàng như đường, gốm sứ... cũng là những mặt hàng mới xuất khẩu được vào thị trường này, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu và đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu.
Do sự biến động về giá cả trên thị trường thế giới nên một số mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu tuy giảm về lượng nhưng trị giá lại tăng. Ví dụ như than đá xuất được 16,6 ngàn tấn (giảm 16,9%), đạt 1,624 triệu USD (tăng 12% về trị giá); hạt tiêu xuất được 176 tấn (giảm 49,7%), mang lại kim ngạch trên 500 ngàn USD (tăng 0,4% về trị giá).
Trên tinh thần tiếp tục thực hiện bản ghi nhớ ký ngày 5/4/2007 giữa Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) và Hiệp hội Các nhà xuất khẩu hồ tiêu Indonesia (AIPE) tại kỳ họp lần thứ tư Uỷ ban Hỗn hợp Việt Nam - Indonesia, ngày 9/7 vừa qua, tại Jakarta, đại diện hai Hiệp hội đã ký bản thoả thuận hợp tác.
Theo thỏa thuận, ngành hồ tiêu hai nước thống nhất áp dụng tiêu chuẩn hoá chất/lượng sản phẩm, khuyến khích hai bên phát triển các chính sách về thị trường chung để có được giá xuất khẩu cao. Hiện phía Việt Nam mong muốn sẽ có thêm các cuộc tiếp xúc giữa hai Hiệp hội trong vòng 3 tháng tới.
Theo số liệu chính thức của Tổng cục Hải quan Việt Nam, 6 tháng đầu năm Việt Nam nhập từ thị trường Indonesia khối lượng hàng hoá trị giá 605,732 triệu USD, tăng 40,69% so với cùng kỳ năm 2006. Như vậy, trong 6 tháng, Việt Nam đã xuất siêu sang thị trường Indonesia 160,739 triệu USD, tăng 120 triệu USD so với mức xuất siêu của 6 tháng đầu năm 2006.
Các mặt hàng nhập khẩu tăng trong 6 tháng đầu năm 2007 chủ yếu là các loại vật tư, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất.
Trong đó, thức ăn chăn gia súc tăng 340% (trị giá 22,122 triệu USD), xăng dầu tăng 346% (trị giá 7,127 triệu USD), clinker tăng 400% (trị giá 1,897 triệu USD), nguyên liệu thuốc lá tăng 408% (trị giá 10,265 triệu USD), kính xây dựng tăng 240% (trị giá 1,241 triệu USD)... Một số mặt hàng trị giá nhập khẩu giảm gồm các sản phẩm hoá chất, bột giấy, cao su, kim loại thường.
Vụ châu Á - Thái Bình Dương nhận định, nhìn chung cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này không bền vững nếu Indonesia ngừng nhập khẩu gạo hoặc Việt Nam không còn xuất khẩu dầu thô sang Indonesia thì kim ngạch xuất khẩu sẽ giảm mạnh.
Hơn nữa, đặc điểm thị trường Indonesia là tình hình chính trị xã hội chưa thật sự ổn định, thường thay đổi chính sách thương mại nhằm bảo hộ thị trường nội địa cũng là những trở ngại trong việc thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường này.
Thêm vào đó, giá dầu thô trên thị trường thế giới có nhiều biến động và xu hướng giảm giá nếu xảy ra cũng sẽ ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Indonesia.
Giá trị lớn nhất của VIFTA không dừng lại ở việc mở rộng thị trường hay ưu đãi thuế quan, mà là cơ hội hình thành cầu nối chiến lược về công nghệ, đầu tư và đổi mới sáng tạo, từ đó tạo nền tảng nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu...
Doanh nghiệp Malaysia đang tìm kiếm đối tác Việt Nam trong nhiều lĩnh vực dược phẩm và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe; sản phẩm tiêu dùng, chăm sóc cá nhân, hàng tiện lợi, gia dụng, thực phẩm và hàng hóa công nghiệp…
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), cho rằng rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là đáp ứng tiêu chuẩn của khối FDI, mà còn nằm ở mạng lưới cung ứng sẵn có của các tập đoàn này. Do đó cần có sự cởi mở hơn từ doanh nghiệp FDI và thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ nhà cung ứng trong nước, qua đó thúc đẩy kết nối và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
Làn sóng điều tra phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp trên toàn cầu đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Canada, Ấn Độ, Mexico và Australia đang đứng trước nguy cơ cao bị đưa vào diện điều tra, theo dõi hoặc áp thuế...
Phát triển thị trường đa kênh giúp tối ưu chi phí và gia tăng điểm chạm với khách hàng, song nhiều doanh nghiệp vẫn đang vấp phải không ít rào cản, từ việc xây dựng hệ sinh thái công nghệ đồng bộ, quản trị dữ liệu khách hàng, cho đến tối ưu hóa quy trình logistics và thiết lập một chiến lược kinh doanh bài bản...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Máy bay không người lái (drone) được mở rộng ứng dụng trong phun thuốc bảo vệ thực vật, gieo sạ và bón phân, góp phần cơ giới hóa sản xuất, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả canh tác, hướng tới phát triển nông nghiệp hiện đại.