Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia vừa có báo cáo về tình hình kinh tế năm 2014 và triển vọng năm 2015. Phần đánh giá về khu vực ngân hàng có những điểm đáng chú ý.
Cụ thể, theo Ủy ban, nhờ quá trình tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng cũng như môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, rủi ro của hệ thống tổ chức tín dụng đã giảm bớt.
Điều đó thể hiện ở thanh khoản hệ thống dồi dào, tiền gửi của khu vực dân cư và tổ chức kinh tế tăng mạnh mặc dù lãi suất huy động giảm (hệ số cho vay trên huy động LDR giảm), mặt bằng lãi suất huy động, cho vay và cả liên ngân hàng giảm mạnh xuống mức thấp ngang với thời điểm năm 2006.
Với một chỉ báo tham khảo cho tình hình thanh khoản, chỉ số LDR theo dữ liệu đưa ra trong bản báo cáo, tính đến 31/10/2014, chỉ ở mức 83,43% - mức thấp nhất trong nhiều năm qua.
Mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm từ 0,5 - 1,5 điểm phần trăm so với đầu năm, được Ủy ban nhìn nhận là yếu tố tiếp tục tác động tích cực lên tăng trưởng tín dụng.
Cùng với thuận lợi trên, đường cong lãi suất đã hợp lý hơn theo nguyên lý kinh tế; chất lượng tài sản của hệ thống tổ chức tín dụng cải thiện, các tổ chức tín dụng tích cực trích lập dự phòng rủi ro tín dụng để xử lý nợ xấu.
Đáng chú ý, theo Ủy ban nhận định, áp lực suy giảm năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng đã giảm bớt: chênh lệch lãi suất cho vay - huy động (NIM) đã ổn định sau khi giảm mạnh trong giai đoạn 2011-2013.
Cụ thể, NIM giảm từ 3,5% (năm 2011) xuống 3,2% (năm 2012) và 2,8% (năm 2013) và được duy trì ổn định trong năm 2014. Đây là tỷ lệ phản ánh phần lãi suất mà các tổ chức thu được trong cho vay.
Cơ sở hoạt động của các tổ chức tín dụng năm qua cũng đã tốt lên, khi Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cho rằng, khả năng thanh toán và trả lãi của doanh nghiệp được cải thiện.
Theo Ủy ban, khả năng thanh toán ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp đã tăng nhẹ so với kì trước ở mức 1,5 lần và 0,9 lần. Khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp phi tài chính cải thiện đáng kể từ năm 2013, đạt 5,4 lần trong 9 tháng 2014, tăng 1,1 lần so với cùng kì năm 2013.
Khả năng thanh toán lãi vay được ghi nhận tăng ở hầu hết các ngành kinh tế ngoại trừ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Trong 9 tháng 2014 khả năng thanh toán lãi vay khu vực SMEs giảm 1,4 lần và ở mức khá thấp là 0,6 lần.
Kiều hối chuyển về TP. Hồ Chí Minh trong quý 3/2026 đạt gần 2,84 tỷ USD, tăng 39,5% so với quý trước và 3,6% so với cùng kỳ. Đà phục hồi này giúp thu hẹp mức giảm lũy kế 9 tháng, đạt gần 6,87 tỷ USD...
Khảo sát 32 ngân hàng ngày 20/10 cho thấy lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 - 9 tháng của nhóm ngân hàng thương mại nhỏ và vừa bình quân 5,87%/năm trên kênh trực tuyến, trong khi lãi suất tại quầy ở mức 5,64%/năm. Cả hai kênh huy động đều ghi nhận mức lãi suất thấp nhất trong 7 tháng, phản ánh làn sóng giảm lãi suất đang lan rộng…
Chương trình phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2026–2030 đặt mục tiêu hỗ trợ, tư vấn 50.000 cơ sở kinh doanh do phụ nữ làm chủ, quản lý tiếp cận nguồn tài chính; đồng thời củng cố ít nhất 1.500 hợp tác xã và 10.000 tổ hợp tác...
Tại cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước sáng 19/10, các ngân hàng thương mại khẳng định sẵn sàng chia sẻ lợi nhuận, tiết giảm chi phí để hạ lãi suất cho vay theo chỉ đạo của Đảng, Nhà nước. Vietcombank sẽ giảm 1,5% - 2% lãi suất, BIDV chấp nhận giảm 500 tỷ đồng lợi nhuận từ gói tín dụng 100 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ chi phí vốn cho doanh nghiệp...
Lãi suất huy động trực tuyến ngày 19/10 cao nhất đạt 7,9%/năm tại kỳ hạn 18 tháng. Ở kỳ hạn 6 và 12 tháng, lãi suất phổ biến dao động 6 - 7%/năm, trong đó Sacombank dẫn đầu với mức tương ứng 7,2% và 7,5%/năm. LPBank và VietBank vừa giảm lãi suất sau yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê trong thời gian qua được ban hành nhiều cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo điều kiện thu hút các nguồn lực tham gia đầu tư. Quỹ đất đối với nhà ở cho thuê sẽ được bố trí tại các khu vực phường thuộc đô thị loại đặc biệt, loại 1, loại 2.